Các hình thức huy động vốn và nguồn vốn huy động của doanh nghiệp

0
537
doanh nghiệp cổ phần hóa
Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn pháp luật: 19006198
5/5 - (2 bình chọn)

Để có thể bắt đầu hoạt động sản xuất kinh doanh với những doanh nghiệp mới được thành lập, hay việc mở rộng quy mô, ngành nghề kinh doanh với những doanh nghiệp đã có thời gian hoạt động nhất định nhu cầu về vốn là một trong những nhu cầu cấp thiết giúp doanh nghiệp thực hiện những hoạt động này. Tùy theo lại hình doanh nghiệp và các đặc điểm cụ thể, mỗi doanh nghiệp có thể có các phương thức tạo vốn để hoạt động và huy động vốn khác nhau.  

Các hình thức huy động vốn của doanh nghiệp
Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198

Các hình thức huy động vốn hoạt động của các doanh nghiệp phổ biến hiện nay:

  • Huy động vốn chủ sở hữu: Vốn góp ban đầu; lợi nhuận không chia; vốn từ phát hành cổ phiếu.
  • Huy động vốn nợ: Tín dụng Ngân hàng; tín dụng thương mại; phát hành trái phiếu.

1.  Huy động vốn từ nguồn vốn góp ban đầu

Vốn góp ban đầu là phần vốn góp được hình thành do các chủ sở hữu cùng nhau đóng góp khi doanh nghiệp được thành lập. Hình thức sở hữu sẽ quyết định tính chất và hình thức tạo vốn của doanh nghiệp.

  • Doanh nghiệp nhà nước: vốn góp ban đầu chính là vốn đầu tư của nhà nước rót vào doanh nghiệp đó.
  • Doanh nghiệp tư nhân: vốn góp ban đầu là số vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp tư nhân do chủ doanh nghiệp tự đăng ký.
  • Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) và công ty hợp danh: vốn góp ban đầu là tổng giá trị phần vốn góp các thành viên cam kết góp vào công ty.
  • Công ty cổ phần: vốn góp ban đầu là tổng giá trị mệnh giá cổ phần các loại đã được đăng ký mua và được ghi trong Điều lệ công ty.

2. Huy động vốn từ lợi nhuận không chia của doanh nghiệp

Nguồn vốn tích luỹ từ lợi nhuận không chia là một phần lợi nhuận dùng để tái đầu tư. Khi công ty để lại một phần lợi nhuận từ các khoản phải thu được trong năm để tái đầu tư thay vì chia lãi cổ phần, các cổ đông sẽ không được cổ tức nhưng bù lại, họ có quyền sở hữu số vốn cổ phần tăng lên của công ty.

  • Đối với doanh nghiệp Nhà nước: việc tái đầu tư không chỉ phụ thuộc vào khả năng sinh lời của bản thân doanh nghiệp mà còn phụ thuộc vào chính sách tái đầu tư của Nhà nước.
  • Đối với công ty cổ phần: Khi công ty để lại một phần lợi nhuận vào tái đầu tư, tức là không dùng số lợi nhuận đó để chia lãi cổ phần, các cổ đông không được nhận tiền lãi cổ phần nhưng bù lại, họ có quyền sở hữu số vốn cổ phần tăng lên của công ty.

3. Huy động vốn từ việc doanh nghiệp phát hành cổ phiếu trong quá trình hoạt động kinh doanh.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Luật chứng khoán năm 2006, sửa đổi bổ sung năm 2010: “Cổ phiếu được hiểu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành.

Vốn huy động từ việc doanh nghiệp phát hành cổ phiếu là một kênh rất quan trọng để doanh nghiệp huy động vốn dài hạn cho công ty một cách rộng rãi. Phát hành cổ phiếu thông qua mối liên hệ với thị trường chứng khoán.

Điều kiện để doanh nghiệp chào bán cổ phiếu ra công chúng bao gồm:

a) Doanh nghiệp có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký chào bán từ mười tỷ đồng Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán;

b) Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký chào bán phải có lãi, đồng thời không có lỗ luỹ kế tính đến năm đăng ký chào bán;

c) Có phương án phát hành và phương án sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán được Đại hội đồng cổ đông thông qua;

d) Công ty đại chúng đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng phải cam kết đưa chứng khoán vào giao dịch trên thị trường có tổ chức trong thời hạn một năm, kể từ ngày kết thúc đợt chào bán được Đại hội đồng cổ đông thông qua.” (Theo quy định tại khoản 1 Điều 12 Luật Chứng khoán 2006, được bổ sung bởi Khoản 7 Điều 1 Luật chứng khoán sửa đổi 2010)

4. Huy động vốn từ các công ty tài chính hay tín dụng ngân hàng

Tín dụng ngân hàng là giao dịch tài sản giữa Ngân hàng với bên đi vay (là các tổ chức kinh tế, cá nhân trong nền kinh tế) trong đó Ngân hàng chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận, và bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện cả vốn gốc và lãi cho Ngân hàng khi đến hạn thanh toán.

Tín dụng ngân hàng có nhiều hình thức khác nhau như: hợp đồng tín dụng từng lần, cho vay theo thời hạn mức tín dụng, thỏa thuận tín dụng tuần hoàn, cho vay đầu tư dài hạn, v.v

Xem thêm: Thủ tục tăng vốn điều lệ công ty TNHH một thành viên

5. Huy động vốn bằng tín dụng thương mại

Tín dụng thương mại hay còn gọi là tín dụng của người cung cấp. Nguồn vốn này được hình thành tự nhiên trong quan hệ mua bán chịu, mua bán trả chậm hay mua bán trả góp. Nguồn vốn tín dụng thương mại không chỉ có sức ảnh hưởng to lớn với các doanh nghiệp mà cả đối với toàn bộ nền kinh tế.

Có ba loại tín dụng thương mại:

  • Tín dụng thương mại cấp cho nhà nhập khẩu (tín dụng xuất khẩu) là loại tín dụng do người xuất khẩu cấp cho người nhập khẩu để đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa.
  • Tín dụng thương mại cấp cho người xuất khẩu (tín dụng nhập khẩu) là loại tín dụng do người nhập khẩu cấp cho người xuất khẩu để nhập hàng thuận lợi.
  • Tín dụng nhà môi giới cấp cho người xuất khẩu và nhập khẩu, các ngân hàng thương nghiệp cỡ lớn thường không cấp tín dụng trực tiếp cho các nhà xuất nhập khẩu mà thông qua nhà môi giới.

6. Huy động vốn bằng cách phát hành trái phiếu doanh nghiệp

Trái phiếu doanh nghiệp là loại chứng khoán có kỳ hạn từ 01 năm trở lên do doanh nghiệp phát hành, xác nhận nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi, và các nghĩa vụ khác (nếu có) của doanh nghiệp đối với nhà đầu tư sở hữu trái phiếu.

Người phát hành có thể là doanh nghiệp (trái phiếu trong trường hợp này được gọi là trái phiếu doanh nghiệp), một tổ chức chính quyền như Kho bạc nhà nước (trong trường hợp này gọi là trái phiếu kho bạc), chính quyền (trong trường hợp này gọi là công trái hoặc trái phiếu chính phủ).

Người mua trái phiếu có thể là cá nhân hoặc doanh nghiệp hoặc chính phủ. Tên của chủ sở hữu trái phiếu có thể được ghi trên trái phiếu (trường hợp này gọi là trái phiếu ghi danh) hoặc không được ghi (trái phiếu vô danh).

Điều kiện chào bán trái phiếu ra công chúng:

a) Doanh nghiệp có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký chào bán từ mười tỷ đồng Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán;

b) Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký chào bán phải có lãi, đồng thời không có lỗ luỹ kế tính đến năm đăng ký chào bán, không có các khoản nợ phải trả quá hạn trên một năm;

c) Có phương án phát hành, phương án sử dụng và trả nợ vốn thu được từ đợt chào bán được Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng thành viên hoặc Chủ sở hữu công ty thông qua;

d) Có cam kết thực hiện nghĩa vụ của tổ chức phát hành đối với nhà đầu tư về điều kiện phát hành, thanh toán, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư và các điều kiện khác.” (Theo quy định tại khoản 2 Điều 12 Luật chứng khoán 2006)

Ngoài các hình thức như trên, doanh nghiệp còn có thể huy động vốn qua một số hình thức khác như: vay từ cá nhân, tổ chức khác; quỹ đầu tư cá nhân, tổ chức; cho thuê tài chính,v.v

Xem thêm: Bán vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu hạn từ hai thành viên trở lên

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

  1. Bài viết trong lĩnh vực nêu trên được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.net.vn.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here