Đang chấp hành hình phạt tù có được góp vốn vào doanh nghiệp?

0
148
Nộp thuế và hoàn thuế
Để có đáp án nhanh nhất trong lĩnh vực pháp luật nêu trên, gọi Tổng đài tư vấn pháp luật (24/7): 1900 6198
Đánh giá post

Quy định về quyền góp vốn

Quyền thành lập, góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp và quản lý doanh nghiệp được ghi nhận tại Điều 18 Luật Doanh nghiệp 2014 như sau: “2. Tổ chức, cá nhân sau đây không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam: e) Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành hình phạt tù… 3. Tổ chức, cá nhân có quyền góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp vào công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh theo quy định của Luật này, trừ trường hợp sau đây: a) Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân sử dụng tài sản nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp để thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình; b) Các đối tượng không được góp vốn vào doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức”.

Ngoài ra, theo quy định tại Khoản 18 Điều 4 Luật Doanh nghiệp về người quản lý doanh nghiệp: “Người quản lý doanh nghiệp là người quản lý công ty và người quản lý doanh nghiệp tư nhân bao gồm chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh, Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, chủ tịch Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc và cá nhân giữ chức danh quản lý khác có thẩm quyền nhân danh công ty ký kết giao dịch của công ty theo quy định tại Điều lệ công ty”.

trở thành cổ đông
Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198

Đang chấp hành hình phạt tù có được góp vốn vào doanh nghiệp?

Pháp luật doanh nghiệp không có quy định hạn chế quyền của người đang chấp hành án phạt tù trong việc góp vốn vào công ty. Người đang chấp hành án phạt tù hoàn toàn có thể được góp vốn vào các công ty nếu họ có nhu cầu. Tuy nhiên, do hạn chế trong quyền quản lý doanh nghiệp, người đang chấp hành án phạt tù được góp vốn nhưng không được giữ những chức danh quản lý, cụ thể như sau:

Đối với việc góp vốn vào công ty hợp danh, người đang chấp hành án phạt tù hoàn toàn có thể trở thành thành viên góp vốn mà không vi phạm quy chế về người quản lý doanh nghiệp.

Đối với việc góp vốn vào công ty TNHH 2 thành viên trở lên, người đang chấp hành án phạt tù không được góp vốn vào Công ty TNHH 2 thành viên, bởi lẽ: Hội đồng thành viên bao gồm tất cả các thành viên trong công ty mà người quản lý doanh nghiệp trong Công ty trách nhiệm hữu hạn là các thành viên trong Hội đồng thành viên. Ngoài ra, người đang chấp hành hình phạt tù không thể trở thành người quản lý doanh nghiệp. Do vậy, khi góp vốn vào Công ty TNHH 2 thành viên, người đang chấp hành án phạt tù đương nhiên trở thành thành viên Hội đồng thành viên, tức người quản lý doanh nghiệp, vi phạm quy định về người quản lý của công ty.

Đối với việc mua cổ phần tại Công ty cổ phần, người đang chấp hành án phạt tù vẫn có thể mua cổ phần được nhưng không được giữ các chức vụ sau trong Công ty cổ phần: chủ tịch Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc.

Tóm lại, người đang chấp hành hình phạt tù không được góp vốn vào doanh nghiệp tư nhân, Công ty TNHH 1 thành viên, Công ty TNHH 2 thành viên; và vẫn được góp vốn, mua cổ phần trong công ty hợp danh nhưng không được giữ các chức danh sau: chủ tịch Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc.

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

  1. Bài viết trong lĩnh vực nêu trên được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.org.vn.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here