Những lưu ý pháp lý khi doanh nghiệp tham gia bảo hiểm

0
257
phát sinh doanh thu
Để có đáp án nhanh nhất trong lĩnh vực pháp luật lao động, gọi Tổng đài tư vấn pháp luật (24/7): 1900 6198
Đánh giá post

Một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật kinh doanh bảo hiểm (KDBH) nói chung và bảo hiểm nhân thọ (BHNT) nói riêng là bên mua bảo hiểm phải có quyền lợi có thể được bảo hiểm (insurable interest). Nguyên tắc này xuất phát từ bản chất của bảo hiểm là sự chuyển giao rủi ro từ bên mua bảo hiểm sang cho doanh nghiệp bảo hiểm.

Quyền liên quan
Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn pháp luật: 19006198

Khái niệm quyền lợi có thể được bảo hiểm trong bảo hiểm nhân thọ

Theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật KDBH năm 2000, sửa đổi năm 2010 (Luật KDBH) thì quyền lợi được bảo hiểm là: “quyền sở hữu, quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền tài sản; quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối với đối tượng được bảo hiểm”. Theo đó, xét dưới góc độ BHNT thì quyền lợi bảo hiểm trong BHNT là “quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối với đối tượng được bảo hiểm”.
Căn cứ theo khoản 24 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì “Cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình hoặc người gặp khó khăn, túng thiếu theo quy định của pháp luật”.
Nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng là nội dung quan trọng của pháp luật hôn nhân và gia đình: nghĩa vụ nuôi dưỡng được xác lập giữa cha mẹ (cả cha mẹ ruột, cha mẹ nuôi, cha dượng, mẹ kế) với con cái (cả con ruột, con nuôi, con riêng của vợ hoặc con riêng của chồng) và ngược lại, giữa ông bà đối với cháu và ngược lại, giữa cô, dì, chú, bác ruột với cháu. Ngoài nghĩa vụ được pháp luật hôn nhân và gia đình xác lập, không còn tồn tại bất kỳ quy định pháp luật nào khác về quyền và/hoặc nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng. Do đó, căn cứ để xác lập quyền và/hoặc nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng là quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình. Cách hiểu này là rất hẹp so với thực tiễn. Bởi vì, ngoài mối quan hệ nuôi dưỡng, cấp dưỡng được xác lập theo quan hệ hôn nhân, huyết thống thì còn tồn tại các mối quan hệ nuôi dưỡng, cấp dưỡng khác như: quan hệ cấp dưỡng giữa vợ và chồng sau khi ly hôn, quan hệ cấp dưỡng của người phạm tội đối với những người mà người bị hại phải nuôi dưỡng nếu người bị hại còn sống…
Theo quy định của khoản 3 Điều 9 Luật KDBH, nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng phải gắn với đối tượng được bảo hiểm. Khoản 1 Điều 31 Luật KDBH quy định: “Đối tượng của hợp đồng bảo hiểm con người là tuổi thọ, tính mạng, sức khoẻ và tai nạn con người”. Như vậy, có thể hiểu, quyền lợi bảo hiểm trong BHNT là quyền hoặc nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng của bên mua bảo hiểm đối với người được bảo hiểm phát sinh liên quan đến tuổi thọ, sức khỏe hoặc tính mạng của người được bảo hiểm. Pháp luật KDBH Việt Nam không bảo hiểm cho những yêu tố khác thuộc về con người như nghề nghiệp, bộ phận cơ thể người,… Ví dụ, pháp luật bảo hiểm Việt Nam không cho phép một cá nhân mua bảo hiểm cho giọng hát của nghề ca sĩ, hoặc đôi chân của cầu thủ bóng đá. Người mua bảo hiểm chỉ có thể mua bảo hiểm cho cầu thủ bóng đá với sản phẩm bảo hiểm sức khỏe, sinh kỳ hoặc tử kỳ. Theo đó, cầu thủ bóng đá chỉ được bảo hiểm cho tổn thất về sức khỏe khi bị gãy chân chứ không được bảo hiểm cho tổn thất về thu nhập, chi trả tài chính cho cuộc sống khi phải giải nghệ vì gãy chân.
Từ những phân tích nêu trên có thể đưa ra khái niệm quyền lợi có thể được bảo hiểm trong BHNT như sau: Quyền lợi có thể được bảo hiểm trong BHNT là quyền và/hoặc nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng giữa của người mua bảo hiểm với người được bảo hiểm gắn liền về tính mạng, tuổi thọ, sức khỏe và tai nạn con người.

Quy định của pháp luật về xác định người được bảo hiểm

Theo quy định của khoản 2 Điều 31 Luật KDBH, “Bên mua bảo hiểm chỉ có thể mua bảo hiểm cho những người sau đây: a) Bản thân bên mua bảo hiểm; b) Vợ, chồng, con, cha, mẹ của bên mua bảo hiểm; c) Anh, chị, em ruột; người có quan hệ nuôi dưỡng và cấp dưỡng; d) Người khác, nếu bên mua bảo hiểm có quyền lợi có thể được bảo hiểm”.
Quy định nêu trên cho thấy, người được bảo hiểm chỉ cần thỏa mãn một trong số các trường hợp a, b, c, d thì bên mua bảo hiểm được phép mua bảo hiểm cho họ. Tuy nhiên, phân tích nội dung của quy định này cho thấy một số bất cập sau đây:
Thứ nhất, quy định tại điểm b và điểm c chỉ quy định mối quan hệ hôn nhân, huyết thống mà không xem xét nghĩa vụ nuôi dưỡng và cấp dưỡng có tồn tại giữa họ hay không. Có nghĩa rằng, theo quy định của Luật KDBH, nếu quan hệ giữa người mua bảo hiểm và người được bảo hiểm là bố, mẹ, vợ, chồng, con, anh chị em ruột thì không cần phải chứng minh thêm bất kỳ một quyền lợi gì vì đây đương nhiên là lợi ích về tinh thần thuộc về quyền lợi được bảo hiểm. Còn đối với các quan hệ khác ngoài các quan hệ bố, mẹ, vợ, chồng, con, anh chị em ruột đã được thừa nhận thì còn phải có thêm điều kiện: “người có quan hệ nuôi dưỡng, cấp dưỡng”. Bởi vì, theo pháp luật hôn nhân và gia đình, những chủ thể có quyền/nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng không chỉ là bố, mẹ, vợ, chồng, con, anh chị em ruột mà còn là ông bà đối với cháu, cô, dì, chú, cậu, bác ruột với cháu ruột, vợ chồng sau khi ly hôn. Do đó, Điều 31 liệt kê các mối quan hệ phát sinh quan hệ nuôi dưỡng, cấp dưỡng là chưa đầy đủ theo pháp luật hôn nhân và gia đình. 
Về thời điểm xác định bên mua bảo hiểm có quyền lợi có thể được bảo hiểm
Tùy thuộc vào tính chất của hợp đồng BHNT nói riêng và bảo hiểm con người nói chung mà quyền lợi được bảo hiểm được coi là phải xác lập tại thời điểm nào. Theo quy định của khoản 1 Điều 22 Luật KDBH, hợp đồng bảo hiểm sẽ bị tuyên bố vô hiệu nếu tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm, bên mua bảo hiểm không có quyền lợi có thể được bảo hiểm. Chúng tôi cho rằng, bên mua bảo hiểm chỉ được mua bảo hiểm nếu chứng minh được quyền lợi có thể được bảo hiểm đang tồn tại tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm. Có nghĩa là, nếu bên mua bảo hiểm có khả năng dự báo về một quyền lợi có thể bị “tổn thất” trong tương lai thì họ hoàn toàn có quyền “đầu tư” để hạn chế những tổn thất như vậy có thể xảy ra. Ngược lại, nếu tại thời điểm xảy ra sự kiện bảo hiểm, bên mua bảo hiểm không có quyền lợi có thể được bảo hiểm thì coi như dự báo về tổn thất là sai. Do đó, bên bảo hiểm không phát sinh trách nhiệm bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm. Vì vậy, quy định của pháp luật KDBH hiện hành bắt buộc người mua bảo hiểm phải có quyền lợi có thể được bảo hiểm tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm là không cần thiết, cản trở sự tham gia bảo hiểm của người có nhu cầu.
Pháp luật một số nước quy định về xác định quyền lợi có thể được bảo hiểm trong bảo hiểm nhân thọ 
Hoa Kỳ là một nhà nước liên bang và pháp luật KDBH là lĩnh vực pháp luật tư nên việc quy định quyền lợi được bảo hiểm các bang có những sự khác nhau nhất định. Tuy nhiên, tựu trung lại, luật các bang của Hoa Kỳ đều thừa nhận, hai mối quan hệ có thể hình thành nên quyền lợi có thể được bảo hiểm đó là quan hệ dựa trên yếu tố về tinh thần và quan hệ lợi ích tài chính. Cụ thể:
Có thể mua BHNT cho chính mình và những người có mối quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng. Cách tiếp cận này giống với quy định của pháp luật Việt Nam ở cách xác định quyền lợi có thể được bảo hiểm dựa trên mối quan hệ hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng hơn là mối quan hệ về quyền hoặc nghĩa vụ tài chính. Chúng tôi ủng hộ cách tiếp cận này vì nó thể hiện đúng bản chất của quan hệ bảo hiểm.
Người mua bảo hiểm và người được bảo hiểm có quan hệ tài chính với nhau. Cách tiếp cận này loại bỏ quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng mà chủ yếu nhấn mạnh vào mối quan hệ về mặt tài chính. Pháp luật Việt Nam hiện hành không thừa nhận lợi ích tài chính đơn thuần, không phải là bằng chứng chứng minh quyền lợi có thể được bảo hiểm tồn tại giữa các bên. Chúng tôi cho rằng, nếu coi bảo hiểm con người là một hình thức đầu tư tài chính thì nên chấp nhận lợi ích tài chính là một yếu tố của quyền lợi có thể được bảo hiểm.
Điều 53 Luật Bảo hiểm sửa đổi, bổ sung số 06/QH ngày 21/12/2011 của Lào cũng quy định tương đồng với pháp luật Việt Nam. Pháp luật của Lào cũng xác định Hợp đồng bảo hiểm con người là hợp đồng bảo hiểm tuổi thọ, tính mạng, sức khỏe và tai nạn về tuổi thọ. Theo đó, bên mua bảo hiểm có thể mua bảo hiểm cho những người sau đây: Bản thân người mua bảo hiểm; vợ, chồng, con, cha mẹ, anh chị em ruột của người mua bảo hiểm; người khác, nếu bên mua bảo hiểm có quyền lợi có thể được bảo hiểm.

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

  1. Bài viết nêu trên được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.net.vn.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here