Hậu quả của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh với doanh nghiệp

0
428
Chính sách hỗ trợ
Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198
Đánh giá post

Với tính chất là một trong những hành vi gây ra nhiều hệ quả xấu cho môi trường cạnh tranh và quyền lợi người dùng, các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh (HCCT) tại Việt Nam xét về mặt lý thuyết luôn bị xử lý rất nghiêm khắc.

Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198

Xử lý vi phạm về thoả thuận hạn chế cạnh tranh tại Việt Nam

Theo Điều 117 Luật Cạnh tranh năm 2004, các thoả thuận HCCT có thể bị xử phạt theo một trong hai hình thức: (i) Cảnh cáo và (ii) Phạt tiền. Mức phạt tiền đối với các thỏa thuận này có thể tối đa đến 10% tổng doanh thu của tổ chức, cá nhân vi phạm trong năm tài chính trước năm thực hiện hành vi vi phạm2Trên cơ sở đó, theo quy định của Nghị định số 71/2014/NĐ-CP, khi xử lý hành vi thỏa thuận sử dụng giá để HCCT, cơ quan xử lý vụ việc cần thiết phải tuân thủ 3 nội dung:
Thứ nhất, mức phạt đối với hành vi không được vượt quá 10% tổng doanh thu trong năm tài chính trước năm thực hiện hành vi vi phạm;
Thứ hai, tỷ lệ phần trăm trong mức phạt áp dụng đối với doanh nghiệp vi phạm không phải luôn xác định như nhau mà sẽ mang tính cá biệt hóa dựa vào thời gian mà mỗi doanh nghiệp tham gia vào thỏa thuận. Cụ thể, là tỷ lệ phần trăm doanh thu bán ra hoặc doanh số mua vào của hàng hóa, dịch vụ liên quan đến hành vi vi phạm trong thời gian thực hiện hành vi vi phạm của từng doanh nghiệp vi phạm.
Thứ ba, các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ được lượng hóa thành các con số cụ thể để xác định mức phạt. Theo đó, mỗi tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 85 của Nghị định số 116/2005/ NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh, mức tiền phạt xác định theo quy định tại khoản 1 Điều này được điều chỉnh giảm hoặc tăng tương ứng 15%.
Trong tương quan so sánh với pháp luật cạnh tranh của EU, cách tiếp cận của Nghị định số 71/2014/NĐ-CP khá tương đồng. Pháp luật cạnh tranh EU cũng quy định mức phạt tối đa lên đến 10% tổng doanh thu của doanh nghiệp, nhưng họ có rất nhiều tiêu chí để giảm nhẹ mức phạt này. Theo đó, có 3 yếu tố cơ bản để lượng hoá mức phạt tiền đối với các vi phạm các quy định kiểm soát các thoả thuận HCCT mà EU quy định là lợi ích thu được từ thoả thuận HCCT, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, các tình tiết khác3. Mặc dù các tiêu chí để lượng hoá mức phạt tiền và tỷ trọng của các tiêu chí có sự khác biệt, nhưng xét về nguyên lý, Nghị định số 71/2014/NĐ-CP cũng tiếp cận giống như pháp luật của EU.

Một số hạn chế của Luật Cạnh tranh năm 2018

Phân tích quy định xử lý vi phạm về thoả thuận HCCT cho thấy, Luật Cạnh tranh năm 2018 vẫn còn một số hạn chế cần được tiếp tục hoàn thiện sau đây:

Thứ nhất, mức phạt tiền đối với các vi phạm.
Theo báo cáo của Công ty cổ phần Báo cáo Đánh giá Việt Nam, năm 2017, mức doanh thu của 5 ngành có doanh thu lớn nhất Việt Nam dao động từ 500.000 tỷ đến hơn 900.000 tỷ đồng6. Nếu đối chiếu với quy định của Luật Cạnh tranh 2018 về mức phạt đối với các vi phạm cho thấy, mức này không đủ để tạo nên sự răn đe. Mức phạt đối với các thoả thuận HCCT nó không chỉ mang ý nghĩa trừng phạt các hành vi vi phạm pháp luật mà quan trọng hơn nó còn thể hiện tính răn đe của pháp luật đối với các vi phạm tiềm năng.
Thực tế, nếu một công ty có thể xác định trước số tiền phạt sẽ được áp dụng đối với bất kỳ hành vi vi phạm nào đó, thì có thể đưa ra quyết định hợp lý về việc có tham gia vào cartel hay không.
Nhìn chung, các nước trên thế giới khi xác định mức phạt đối với các thoả thuận HCCT nói chung và TTSDG để HCCT nói riêng luôn dựa vào doanh thu của các doanh nghiệp chứ không xác định mức phạt bằng một số tiền cụ thể như quy định của Luật Cạnh tranh năm 2018 và BLHS năm 2015. Tuy nhiên, tùy vào các yếu tố liên quan khác, pháp luật các nước có thể có những quy định khác nhau liên quan đến mức doanh thu mà doanh nghiệp thu được trong quá trình tiến hành các thoả thuận HCCT bị cấm.
Bởi lẽ, một doanh nghiệp có thể hoạt động trong nhiều lĩnh vực và doanh nghiệp này chỉ tham gia các thoả thuận HCCT trong một ngành nghề nào đó. Việc cơ quan cạnh tranh xử phạt mà không quan tâm đến khía cạnh này, trong nhiều trường hợp, sẽ là bất công đối với doanh nghiệp. Chính vì lẽ đó, khái niệm “sản phẩm có liên quan” được pháp luật  các nước sử dụng như là một yếu tố bổ trợ cho việc xác định tổng doanh thu của doanh nghiệp vi phạm. Ngoài yếu tố “sản phẩm có liên quan”, pháp luật cạnh tranh các nước còn sử dụng yếu tố giá trị bán hàng có liên quan đến vi phạm hoặc khối lượng thương mại bị ảnh hưởng làm cơ sở để xác định mức doanh thu của doanh nghiệp. Khi đã xác định được doanh thu của doanh nghiệp có liên quan, việc xác định mức phạt luôn được các doanh nghiệp xác định dựa vào tỷ lệ phần trăm nhất định.
Thông thường, mức phạt sẽ được ấn định tối đa là 10% tổng doanh của hàng hoá, dịch vụ có liên quan trong khoảng thời gian mà doanh nghiệp tiến hành các thoả thuận HCCT. Thông thường, xuất phát điểm để xác định tiền phạt sẽ là một tỷ lệ phần trăm của phép tính này. Lý do cơ bản đằng sau tỷ lệ phần trăm được chọn thường là một túc số cho lợi nhuận vượt quá mà các doanh nghiệp thoả thuận HCCT đạt được.

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

  1. Bài viết nêu trên được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.net.vn.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here