Những vấn đề pháp lý về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng

0
381
Để có đáp án nhanh nhất trong lĩnh vực pháp luật lao động, gọi Tổng đài tư vấn pháp luật (24/7): 1900 6198
Đánh giá post

Trong thực tiễn xét xử có một số bản án thể hiện có sự nhầm lẫn giữa hai khái niệm này, thể hiện như: Tuyên bố hủy hợp đồng đối với hợp đồng vô hiệu; căn cứ vào việc chưa chuyển quyền sở hữu đề tuyên bố hợp đồng vô hiệu; căn cứ vào việc có vi phạm hợp đồng của hợp đồng có hiệu lực để tuyên bố hợp đồng vô hiệu… Do đó cần làm rõ ý nghĩa của việc phân biệt thời điểm có hiệu lực của hợp đồng với thời điểm chuyển quyền sở hữu và rút kinh nghiệm về một số sai sót do sự nhầm lẫn giữa hai thời điểm này.

Hành vi cạnh tranh
Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn pháp luật: 19006198

Thời điểm hợp đồng có hiệu lực

Chế định pháp luật về hợp đồng quy định rõ hai giai đoạn là giai đoạn giao kết hợp đồng và giai đoạn thực hiện hợp đồng. Hợp đồng là sự thỏa thuận của các bên nên khi chưa có sự thỏa thuận thì chưa có hợp đồng. Tuy nhiên, nếu tranh chấp ở giai đoạn chuẩn bị giao kết mà chưa có thỏa thuận thì cũng phải áp dụng pháp luật về hợp đồng quy định cho giai đoạn này. Hợp đồng đã hình thành (đã thỏa thuận) nhưng chưa đủ các điều kiện có hiệu lực (chưa được công chứng theo quy định hoặc có vi phạm khác) là hợp đồng vô hiệu.

Hợp đồng có đủ điều kiện có hiệu lực theo Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS) thì có hiệu lực từ thời điểm giao kết (theo quy định tại Điều 401 BLDS). Sau thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là giai đoạn thi hành hợp đồng, trong đó có thời điểm chuyển giao quyền sở hữu, thời điểm hợp đồng đã được hoàn thành. Cần lưu ý là “hợp đồng đã được hoàn thành” là một căn cứ để chấm dứt hợp đồng (khoản 1 Điều 422 BLDS), là trường hợp đã thi hành xong các điều khoản của hợp đồng, nhưng trong thực tiễn xét xử đã có sự hiểu sai “hợp đồng đã được hoàn thành” là trường hợp hợp đồng đã được làm đầy đủ thủ tục nên là căn cứ vào đó để công nhận hợp đồng hợp pháp.

Trong các giai đoạn và các thời điểm nêu ở trên thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là thời điểm được quy định tại khoản 1 Điều 401 là:

“Hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật liên quan có quy định khác”. Nội dung quy định này về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng cũng đã được quy định tại Điều 145 BLDS năm 2005, Khoản 3 Điều 404 BLDS năm 1995, khoản 1 Điều 14 Pháp lệnh Hợp đồng dân sự năm 1991.

Ý nghĩa pháp lý của việc xác định thời điểm hợp đồng có hiệu lực

Theo quy định tại khoản 2 Điều 401 BLDS thì: “Từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực, các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo cam kết. Hợp đồng chỉ có thể bị sửa đổi hoặc hủy bỏ theo thỏa thuận của các bên hoặc theo quy định của pháp luật”. Nội dung này quy định về hiệu lực của hợp đồng cũng đã được quy định tại Điều 423, Điều 425, Điều 426 BLDS năm 2005; Điều 404 BLDS năm 1995; Điều 26, Điều 28, Điều 29 Pháp lệnh Hợp đồng dân sự năm 1991.

Với ý nghĩa nêu trên, việc xử lý đối với vi phạm hợp đồng đã có hiệu lực khác rất xa với xử lý vi phạm khi hợp đồng vô hiệu. Đối với hợp đồng vô hiệu thì nguyên tắc chung là trở lại tình trạng ban đầu, các bên trả lại nhau những gì đã nhận. Nhưng trong việc xử lý vi phạm đối với hợp đồng có hiệu lực thì phải căn cứ vào hợp đồng quy định xử lý vi phạm đó thế nào, nếu hợp đồng không quy định thì mới căn cứ vào quy định của pháp luật về trường hợp vi phạm đó. Cần lưu ý là pháp luật có thể quy định ở mỗi thời điểm có nội dung khác nhau nên phải áp dụng đúng pháp luật.

Thời điểm chuyển quyền sở hữu

Thông thường thì thời điểm chuyển quyền sở hữu thuộc về giai đoạn thi hành hợp đồng, cũng có nghĩa là sau thời điểm hợp đồng có hiệu lực. Trừ những hợp đồng đặc biệt (như hợp đồng tặng cho), có thể thời điểm chuyển quyền sở hữu là một điều kiện để hợp đồng có hiệu lực, còn các hợp đồng thông thường khác thì thời điểm chuyển quyền sở hữu không liên quan đến điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, không làm cho hợp đồng có hiệu lực hay vô hiệu.

Thời điểm chuyển quyền sở hữu theo quy định tại Điều 238 BLDS là thời điểm “phát sinh quyền sở hữu của người được chuyển giao”.

Thời điểm xác lập quyền sở hữu được quy định tại Điều 161 BLDS, cụ thể là:

Theo quy định của BLDS, luật khác có liên quan;

Trường hợp luật không có quy định thì thực hiện theo thỏa thuận của các bên;

Trường hợp luật không quy định và các bên không có thỏa thuận thì thời điểm xác lập quyền sở hữu là thời điểm tài sản được chuyển giao;

Thời điểm tài sản được chuyển giao là thời điểm chiếm hữu tài sản.

Cần chú ý là thời điểm chuyển quyền sở hữu được quy định khác nhau đối với các loại hợp đồng khác nhau, loại tài sản khác nhau, và thời gian cụ thể khác nhau.

Ý nghĩa pháp lý của việc xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu

Ý nghĩa pháp lý của việc xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu là để xác định ai là người chịu rủi ro về tài sản (như do thiên tai làm tài sản bị hủy hoại), chịu trách nhiệm về tài sản (như nhà đổ làm hỏng tài sản của người khác).

Theo quy định tại Điều 162 BLDS thì: “Chủ sở hữu phải chịu rủi ro về tài sản thuộc sở hữu của mình, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc Bộ luật này, luật khác liên quan có quy định khác”. Các điều 603, 604, 605 BLDS cũng quy định chủ sở hữu phải bồi thường thiệt hại do gia súc, cây cối, nhà cửa, công trình xây dựng thuộc sở hữu của mình gây ra cho người khác.

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:
  1. Bài viết trong lĩnh vực nêu trên được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.net.vn.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here