Giao dịch dân sự vô hiệu: Những vấn đề pháp lý

0
378
bảo hộ thương hiệu
Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn pháp luật: 19006198
Đánh giá post

Giao dịch dân sự vô hiệu: Những hệ quả pháp lý

Hợp đồng không sinh ra để vô hiệu hóa mà là để thực hiện. Trên thực tế, đôi khi doanh nghiệp xác lập hợp đồng nhưng hợp đồng rơi vào trường hợp vô hiệu. Nếu rơi vào trường hợp đó, doanh nghiệp cần ứng xử như thế nào, trong đó xác định hợp đồng vô hiệu toàn bộ hay hợp đồng vô hiệu từng phần là vô cùng cần thiết.

bảo vệ quyền
Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn pháp luật: 19006198

Pháp luật về giao dịch dân sự vô hiệu

Theo đó, điều 122 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: Giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại điều 117 (về chủ thể, hình thức, mục đích và nội dung-TG) của Bộ luật này thì vô hiệu, trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác”. Như vậy, khi giao dịch dân sự hay hợp đồng không đạt được những điều kiện để nó có hiệu lực thì nó có thể bị tuyên là vô hiệu.

Với trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu, về mặt lý luận sẽ được chia ra 2 trường hợp là giao dịch dân sự vô hiệu toàn phần và giao dịch dân sự vô hiệu từng phần.

Trường hợp vô hiệu toàn phần khi: Giao dịch dân sự có mục đích và nội dung vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội. Trong đó, điều cấm của luật là những quy định của luật không có phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định, còn đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng (điều 123 Bộ luật Dân sự 2015).

Trường hợp vô hiệu từng phần khi:  khi một phần nội dung của giao dịch dân sự vô hiệu nhưng không ảnh hưởng đến hiệu lực của phần còn lại của giao dịch (điều 130 Bộ luật Dân sự năm 2015). Ví dụ, công ty A ký hợp đồng góp vốn vào công ty B, trong hợp đồng được ký kết có nội dung: Công ty A thanh toán khoản vốn góp cho Công ty B bằng tiền mặt Việt Nam đồng. Theo đó, căn cứ khoản 1 điều 3 Thông tư 09/2015/TT-BTC hướng dẫn giao dịch tài chính của doanh nghiệp theo quy định tại điều 6 nghị định số 222/2013/NĐ-CP ngày 31/12/2013 của Chính phủ về thanh toán bằng tiền mặt quy định như sau: “Các doanh nghiệp không sử dụng tiền mặt (tiền giấy, tiền kim loại do Ngân hàng Nhà nước phát hành) để thanh toán khi thực hiện các giao dịch góp vốn và mua bán, chuyển nhượng phần vốn góp vào doanh nghiệp khác”. Như vậy, điều khoản về nghĩa vụ thanh toán là vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật. Đồng nghĩa, các điều khoản khác trong giao dịch dân sự kể trên không tương ứng cũng vô hiệu thay vào đó là vẫn còn hiệu lực pháp luật nhất định.

Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu

Trước hết, giao dịch dân sự bị tuyên bố vô hiệu không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự cho các chủ thể liên quan kể từ thời điểm xác lập. Do đó, nếu các bên chưa thực thi giao dịch thì các bên sẽ không có nghĩa vụ phải thực thi giao dịch nữa. Còn nếu giao dịch đã được thực hiện trước khi phát hiện và giao dịch được tuyên bố vô hiệu thì “các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận” (khoản 2 điều 131 Bộ luật Dân sự 2015”. Ở đây, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận là một cách thức để khôi phục tình trạng ban đầu và là hệ quả tất yếu của giao dịch bị tuyên bố vô hiệu.

Không chỉ có vậy, trên cơ sở giao địch dân sự được giao kết, bên có quyền đã xác lập cho mình những quyền dân sự nhất định. Ví du như: quyền nhận hàng quyền kiểm tra hàng trong hợp đồng mua bán hàng hóa,… Trong trường hợp này, khôi phục tình trạng ban đầu buộc phải hủy bỏ quyền dân sự đã được tạo lập.

Chưa hết, trên cơ sở hợp đồng được giao kết, một bên có thể đã tạo lập ra một hoàn cảnh mới so với giai đoạn trước khi có hợp đồng. Trong trường hợp này, khôi phục tình trạng ban đầu là buộc phải loại bỏ hoàn cảnh mới để quay lại hoàn cảnh trước khi có hợp đồng.

Ở nghĩa ngược lại, hợp đồng được coi là sự thỏa thuận, thống nhất ý chí của các bên về xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”. Với nội dung này, hợp đồng có thể làm cho các bên chấm dứt quyền và thực tế, trước khi hợp đồng bị tuyên vô hiệu, có thể một bên đã chấm dứt quyền dân sự của mình trên cơ sở hợp đồng. Đối với trường hợp này, khôi phục tình trạng ban đầu là khôi phục lại quyền dân sự đã bị chấm dứt.

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

  1. Bài viết trong lĩnh vực pháp luật doanh nghiệp được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật:1900 6198, E-mail: info@everest.net.vn.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here