Khái niệm “người nộp thuế” doanh nghiệp cần chú ý gì?

0
235
Giảm vốn góp của quỹ
Để có đáp án nhanh nhất trong lĩnh vực pháp luật lao động, gọi Tổng đài tư vấn pháp luật (24/7): 1900 6198
Đánh giá post

Hiện nay, pháp luật về thuế ở nước ta được chia thành hai mảng: pháp luật về quản lý thuế và pháp luật quy định đối với từng sắc thuế cụ thể. (i) Pháp luật quản lý thuế bao gồm những văn bản pháp luật quy định về đăng ký kê khai, nộp thuế, quyết toán thuế và xử lý vi phạm hành chính thuế.

Quản trị tài sản
Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198

Các chủ thể thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước

Trước đây, nội dung về đăng ký, kê khai, nộp thuế, quyết toán thuế được quy định trong từng sắc thuế cụ thể. Tuy nhiên, từ năm 2006, những nội dung này được quy định trong Luật Quản lý thuế và áp dụng cho tất cả các sắc thuế. (ii) Pháp luật quy định từng sắc thuế cụ thể bao gồm các quy phạm pháp luật quy định về đối tượng chịu thuế, người nộp thuế, những trường hợp không chịu thuế, căn cứ tính thuế, chế độ miễn giảm,…

Chủ thể chịu thuế: Trong lý luận về thuế, chủ thể chịu thuế là tổ chức, cá nhân phải trả tiền thuế cho Nhà nước hay còn gọi là người chịu thuế. Người chịu thuế là chủ thể sử dụng những hàng hóa, dịch vụ có được từ hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc nhập khẩu (đối với thuế gián thu) và những chủ thể có thu nhập chịu thuế (đối với thuế trực thu). Trong thuế gián thu, các tổ chức, cá nhân khi sử dụng hàng hóa, dịch vụ chịu thuế phải trả tiền thuế cho Nhà nước. Tiền thuế của các sắc thuế gián thu được cấu thành trong giá cả hàng hóa, dịch vụ, vì vậy, nghĩa vụ trả tiền thuế của các chủ thể này sẽ cùng lúc với việc họ thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ cho người bán.
Sở dĩ, chủ thể chịu thuế phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền thuế cho Nhà nước vì họ có hành vi tiêu dùng những hàng hóa, dịch vụ có được từ hành vi chịu thuế. Chẳng hạn, tổ chức, cá nhân chỉ phải trả tiền thuế giá trị gia tăng (GTGT) nếu hàng hóa, dịch vụ này có được từ hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc nhập khẩu. Vì hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ là hoạt động chịu thuế GTGT. Trường hợp cũng là hành vi tiêu dùng hàng hóa, nhưng hàng hóa này không phải có được từ hành vi chịu thuế thì họ cũng không phải trả tiền thuế cho Nhà nước. Ví dụ, hộ gia đình tự làm bánh biếu người thân, bạn bè để sử dụng trong dịp Tết. Việc tiêu dùng bánh trong trường hợp này không phải trả tiền thuế cho Nhà nước vì hành vi làm bánh của hộ gia đình không phải là hành vi chịu thuế.
Chủ thể chịu thuế không được đề cập trong pháp luật về quản lý thuế và cũng không được quy định trong pháp luật đối với từng sắc thuế. Chủ thể chịu thuế chỉ có trong lý luận về thuế. Chính vì vậy, chủ thể chịu thuế (người trả tiền thuế trong thuế gián thu) không phải chịu trách nhiệm pháp lý theo quy định của pháp luật về thuế.
Ví dụ: một món hàng được bán với giá 10.500.000đ (giá đã có thuế GTGT) nhưng người bán thỏa thuận nếu ngưới mua không lấy hóa đơn thì chỉ phải trả 10.000.000đ. Nếu người mua đồng ý không lấy hóa đơn thuế GTGT và chỉ trả 10.000.000đ, mặc dù 500.000đ tiền thuế GTGT người mua không phải trả nhưng người mua không vi phạm pháp luật về thuế mà chỉ vi phạm quy định của pháp luật về hóa đơn (do không yêu cầu người bán xuất hóa đơn). Trong tình huống này, người bán phải chịu trách nhiệm pháp lý trước Nhà nước (vì vi phạm pháp luật thuế) do nghĩa vụ của người bán (người nộp thuế) phải thu khoản tiền thuế này từ người mua để nộp cho Nhà nước nhưng họ không thực hiện.

Quy định của pháp luật về người nộp thuế và chủ thể làm thủ tục về thuế thay người nộp thuế

Luật Quản lý thuế năm 2006 và văn bản hướng dẫn thi hành không đưa ra khái niệm đối tượng nộp thuế và đối tượng nộp thuế thay mà chỉ đưa ra khái niệm người nộp thuế. Theo quy định tại Điểm c, Khoản 1, Điều 2, Luật Quản lý thuế năm 2006 thì người nộp thuế có thể tạm phân thành hai nhóm:
Nhóm một: Đối tượng nộp thuế là chủ thể có nghĩa vụ đăng ký, kê khai, nộp thuế theo quy định của từng sắc thuế cụ thể. Nhóm chủ thể này được quy định cụ thể trong các đạo luật thuế.
Nhóm hai: Tổ chức, cá nhân khấu trừ thuế; tổ chức, cá nhân làm thủ tục về thuế thay người nộp thuế. Nhóm chủ thể này được quy định cụ thể tại Điểm D, Khoản 1, Điều 2 Thông tư số 156/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày 06/11/2013.
Nghĩa vụ nộp thuế của các chủ thể thuộc nhóm một là nghĩa vụ theo luật định. Cụ thể, khi tham gia quan hệ pháp luật thuế, những chủ thể này có hành vi tác động lên đối tượng chịu thuế (tức thực hiện hành vi chịu thuế) thì phải có nghĩa vụ đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế và thực hiện các thủ tục về thuế theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, do tính phức tạp và yêu cầu ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động quản lý thuế nên thủ tục hành thu đòi hỏi phải ngày càng tỉ mỉ, có tính chuyên môn hóa cao.
Chính vì vậy, pháp luật quản lý thuế ghi nhận quyền của người thực hiện hành vi chịu thuế (để tiện theo dõi, chúng tôi gọi nhóm chủ thể này là đối tượng nộp thuế) được ký hợp đồng với tổ chức kinh doanh làm dịch vụ về thuế để những tổ chức này thực hiện các thủ tục về thuế thay. Cụ thể, Khoản 1, Điều 2, Thông tư số 117/2012/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày 19/7/2012 hướng dẫn về hành nghề dịch vụ làm thủ tục về thuế quy định: “Tổ chức kinh doanh dịch vụ về thuế thực hiện đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, quyết toán thuế, lập hồ sơ đề nghị miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế và các thủ tục hành chính về thuế khác thay người nộp thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế và hợp đồng dịch vụ đã ký kết”.

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

  1. Bài viết nêu trên được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.net.vn.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here