Pháp luật tác động thế nào đến quản lý nội bộ Công ty TNHH ?

0
266
Muốn bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp cần lưu ý điều gì để tránh sai sót?
Để có đáp án nhanh nhất trong lĩnh vực pháp luật nêu trên gọi Tổng đài tư vấn pháp luật (24/7): 1900 6198
5/5 - (1 bình chọn)

Các công ty thuộc các loại hình sở hữu khác nhau sẽ có những đặc trưng pháp lý riêng biệt. Điều đó cũng chi phối đến việc xây dựng mô hình quản lý nội bộ của từng loại hình sở hữu, đặc biệt phải kể đến loại hình công ty TNHH.

Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn pháp luật: 19006198

Thế nào là công ty TNHH?

Công ty TNHH là loại hình doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, được thành lập và tồn tại độc lập đối với những chủ thể sở hữu nó. Trên phương diện pháp luật công ty là pháp nhân, chủ sở hữu công ty là thể nhân với các nghĩa vụ và quyền tương ứng với quyền sở hữu công ty.

Công ty TNHH được liệt kê vào dạng công ty đối vốn nhưng nó có bản chất của cả công ty đối vốn lẫn đối nhân. Lịch sử hình thành đối với công ty TNHH khác hẳn với các loại hình công ty khác. Nó không hình thành tự phát, nó không phải là sản phẩm của các thương gia mà là sản phẩm của các nhà làm luật, là kết quả của hoạt động luật pháp.

Sở dĩ các nhà làm luật sáng tạo ra loại hình công ty này vì trong hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ bên cạnh những công ty cổ phần có quy mô đồ sộ đã xuất hiệu nhiều nhu cầu đầu tư vừa và nhỏ. Mô hình công ty cổ phần không thích hợp với khuynh hướng đầu tư vừa và nhỏ này. Trong khi đó các thành viên lại không muốn chịu trách nhiệm vô hạn như các thành viên công ty tư nhân và công ty hợp danh. Các nhà đầu tư vừa muốn tận dụng khả năng đối vốn của công ty cổ phần lại vừa không muốn chịu những chế độ quản lý khắt khe của công ty cổ phần. Họ muốn có một mô hình công ty hoàn toàn mới đáp ứng được các yêu cầu quy mô nhỏ, số lượng thành viên ít, quy chế pháp lý đơn giản và chịu trách nhiệm hữu hạn.

Các nhà làm luật đã đáp ứng được nguyện vọng của các nhà đầu tư bằng việc sáng tạo ra mô hình mới: công ty trách nhiệm hữu hạn. Công ty TNHH đã kết hợp được ưu điểm về sự quen biết nhau giữa các thành viên của công ty đối nhân. Đồng thời nó cũng khắc phục được nhược điểm về quy chế quản lý phức tạp của công ty cổ phần và nhược điểm của việc không phân chia được rủi ro trong công ty hợp danh và công ty tư nhân

Về quy mô của công ty

Công ty TNHH được nhà làm luật sáng tạo ra để phù hợp với công ty vừa và nhỏ, vì vậy, về bản chất công ty TNHH có quy mô hoạt động nhỏ.

Về cấu trúc vốn của công ty

Công ty TNHH trước hết là công ty đối vốn. Vốn điều lệ chia thành từng phần, mỗi thành viên có thể góp nhiều, ít khác nhau. Các thành viên công ty chịu trach nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp  trong phạm vi số vốn cam kết góp vào doanh nghiệp. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị  điều hành trong công ty TNHH trước hết chịu ảnh hưởng của cơ cấu vốn góp của các thành viên trong công ty. Căn cứ theo Luật doanh nghiệp năm 2014, quy định cụ thể về vốn như sau:

Tất cả các thành viên đều có quyền tham gia Hội đồng thành viên (HĐTV), thảo luận, kiến nghị, biểu quyết các vấn đề thuộc thẩm quyền của HĐTV. Hội đồng thành viên được triệu tập họp theo yêu cầu của Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc theo yêu cầu của thành viên mà sở hữu trên 90% vốn điều lệ hoặc nhóm thành viên sở hữu từ 10% số vốn điều lệ trở lên hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn do Điều lệ công ty quy định (Điều 58 Luật doanh nghiệp 2014).

Cuộc họp Hội đồng thành viên được tiến hành khi có số thành viên dự họp sở hữu ít nhất 65% vốn điều lệ; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định. Trường hợp Điều lệ không quy định hoặc không có quy định khác, triệu tập họp Hội đồng thành viên trong trường hợp cuộc họp lần thứ nhất không đủ điều kiện tiến hành thì triệu tập họp lần thứ hai phải được thực hiện trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày dự định họp lần thứ nhất. Cuộc họp Hội đồng thành viên triệu tập lần thứ hai được tiến hành khi có số thành viên dự họp sở hữu ít nhất 50% vốn điều lệ. Trường hợp cuộc họp lần thứ hai không đủ điều kiện tiến hành thì được triệu tập họp lần thứ ba, không phụ thuộc số thành viên dự họp và số vốn điều lệ được đại diện bởi số thành viên dự họp (Điều 59 Luật doanh nghiệp 2014)

Các quyết định trong công ty được thông qua không dựa trên sự thống nhất của số lượng thành viên  mà dựa trên số lượng vốn góp của các thành viên trong công ty: Trường hợp Điều lệ công ty không có quy định khác, nghị quyết của Hội đồng thành viên được thông qua tại cuộc họp khi được số phiếu đại diện ít nhất 65% tổng số vốn góp của các thành viên dự họp tán thành; hoặc được số phiếu đại diện ít nhất 75% tổng số vốn góp của các thành viên dự họp tán thành đối với quyết định bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty hoặc một tỷ lệ hoặc giá trị khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty; sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty; tổ chức lại, giải thể công ty.

Về cơ cấu thành viên của công ty

Cơ cấu thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn có những đặc điểm tạo nên sự khác biệt trong cơ chế quản lý công ty. Khác với công ty cổ phần, trong đó số thành viên không hạn chế tối đa, số lượng thành viên trong công ty trách nhiệm hữu hạn không vượt quá năm mươi. Điều này thể hiện yếu tố “đối nhân” của  công ty trách nhiệm hữu hạn. Thành viên là những người quen biết nhau, tín nhiệm lẫn nhau. Việc chuyển nhượng vốn góp cho người ngoài công ty rất khó, thể hiện ở chỗ phải được sự đồng ý của các thành viên còn lại trong công ty.

Theo Điều 53 và 54 Luật doanh nghiệp 2014 quy định thành viên  công ty TNHH muốn chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho người khác phải tuân theo trình tự nhất định: phải chào bán phần vốn đó cho các thành viên còn lại theo tỷ lệ tương ứng với phần vốn góp của họ trong công ty với cùng điều kiện; chỉ được chuyển nhượng với cùng điều kiện chào bán đối với các thành viên còn lại quy định tại điểm a khoản này cho người không phải là thành viên nếu các thành viên còn lại của công ty không mua hoặc không mua hết trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày chào bán.

Trong một số trường hợp đặc biệt luật đã quy định rất chặt chẽ người ngoài công ty có được phần vốn đó của các thành viên trong công ty không qua  chuyển nhượng phần vốn góp như: Tặng, cho, thừa kế … Tại Điều 54 Luật Doanh nghiệp 2014: thành viên là cá nhân chết thì người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của thành viên đó là thành viên của công ty.

Trường hợp thành viên là cá nhân bị Tòa án tuyên bố mất tích thì người quản lý tài sản của thành viên đó theo quy định của pháp luật về dân sự là thành viên của công ty; nếu thành viên bị hạn chế hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự thì quyền và nghĩa vụ của thành viên đó trong công ty được thực hiện thông qua người giám hộ; trường hợp phần vốn góp của thành viên là cá nhân chết mà không có người thừa kế, người thừa kế từ chối nhận thừa kế hoặc bị truất quyền thừa kế thì phần vốn góp đó được giải quyết theo quy định của pháp luật về dân sự; thành viên có quyền tặng cho một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình tại công ty cho người khác, người được tặng cho là vợ, chồng, cha, mẹ, con, người có quan hệ họ hàng đến hàng thừa kế thứ ba thì đương nhiên là thành viên của công ty, còn nếu là tặng cho là người khác thì chỉ trở thành thành viên của công ty khi được Hội đồng thành viên chấp thuận.

Trường hợp thành viên sử dụng phần vốn góp để trả nợ thì người nhận thanh toán có quyền sử dụng phần vốn góp đó có thể trở thành thành viên của công ty nếu được Hội đồng thành viên chấp thuận hoặc chào bán và chuyển nhượng phần vốn góp đó.

Cơ cấu thành viên chi phối đến cơ cấu tổ chức của Công ty TNHH còn thể hiện ở chỗ số lượng thành viên ảnh hưởng đến việc thành lập ban kiểm soát hay không. Theo Điều 55 Luật doanh nghiệp 2014 công ty trách nhiệm hữu hạn có từ 11 thành viên trở lên phải thành lập Ban kiểm soát; trường hợp có ít hơn 11 thành viên, có thể thành lập Ban kiểm soát phù hợp với yêu cầu quản trị công ty.

Khuyến nghị của công ty Luật TNHH Everest:

  1. Bài viết trong lĩnh vực pháp luật lao động được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị đây chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 19006198, E-mail: info@everest.net.vn.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here