Tranh chấp hợp đồng: Dịch Covid-19 là sự kiện bất khả kháng?

Dịch bệnh Covid-19 hiện nay khiến nhiều doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh điêu đứng, phải trả mặt bằng, đóng cửa kinh doanh. Nhiều hợp đồng được ký kết trước khi bùng phát dịch đã không còn khả năng tiếp tục thực hiện được. Một số các bên đã đưa ra điều khoản “sự kiện bất khả kháng” và coi dịch bệnh Covid-19 là một sự kiện bất khả kháng để áp dụng giải quyết tranh chấp.

Bài viết được thực hiện bởi: Luật sư Nguyễn Hoài Thương – Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn (24/7): 1900 6198

Thế nào là “sự kiện bất khả kháng”?

“Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dung mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép” (theo Khoản 1 Điều 156 Bộ luật Dân sự năm 2015).

Một sự kiện được xem là sự kiện bất khả kháng khi đáp ứng các điều kiện sau:

(i) Thứ nhất, đó là những sự kiện xảy ra một cách khách quan hay gọi là sự kiện khách quan, tức sự kiện đó nằm ngoài phạm vi kiểm soát của bên vi phạm hợp đồng. Ví dụ: sự kiện bão, lũ, động đất, sóng thần, thiên tai, dịch bệnh,…;

(ii) Thứ hai, hậu quả của sự kiện không thể lường trước được tại thời điểm giao kết hoặc trong quá trình thực hiện hợp đồng cho đến trước thời điểm xảy ra hành vi vi phạm;

(iii) Thứ ba, hậu quả của sự kiện đó không thể khắc phục được mặc dù áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép.

Như vậy, chỉ khi đáp ứng cả ba điều kiện nêu trên thì một sự kiện mới có thể được xem là bất khả kháng và là căn cứ để miễn trách nhiệm đối với bên vi phạm.

Dịch Covid-19 có được coi là sự kiện bất khả kháng không?

Khi dịch bùng phát, cơ quan nhà nước đã ban hành các “lệnh” không được phép hoạt động và lẽ đương nhiên các “lệnh cấm” này trở thành bất khả kháng. Yêu cầu dừng các hoạt động là một yếu tố khách quan và cũng không thể lường trước được do đây là các quyết định của Cơ quan nhà nước khi có dịch bệnh xảy ra, bắt buộc phải thực hiện.

Trong trường hợp này, chúng ta phải lưu ý các hệ quả xuất phát từ “lệnh cấm”. Trong trường hợp có xảy ra thiệt hại, về nguyên tắc, người có nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm. Tuy nhiên, luật cũng cho phép trong trường hợp này các bên có thể thỏa thuận lại. Do đó, tùy theo quan hệ giữa các bên, khi xảy ra thiệt hại xuất phát từ lệnh cấm đó, các bên hoàn toàn có thể cùng chia sẻ rủi ro.

Trong quan hệ hợp đồng, khi xảy ra sự kiện bất khả kháng xuất phát từ “lệnh cấm” trên, chúng ta phải đặt ra trường hợp: nếu lệnh này làm cho hợp đồng vĩnh viễn không thể thực hiện được thì hợp đồng có buộc phải chấm dứt hay không? Chẳng hạn, các bên thỏa thuận chuyển hàng vào đúng ngày giờ cụ thể cho một sự kiện, nhưng “lệnh cấm” lại không cho phép chuyển hàng, lẽ đương nhiên hợp đồng này phải chấm dứt. Tuy nhiên, nếu các bên lựa chọn vận chuyển hàng hóa đến một địa điểm mà không quá quan trọng về mặt thời gian, có thể kéo dài một đến hai tuần thì hợp đồng đó chưa chắc đã chấm dứt mà có thể kéo dài trong thời gian của hợp đồng ấy. Sau lệnh cấm thì các bên có thể tiếp tục giao dịch.

Như vậy, dịch Covid-19, có thể coi là sự kiện bất khả kháng nếu các bên chứng minh được rằng trong tình huống cụ thể của mình hậu quả gây ra bởi dịch Covid-19 là không thể khắc phục được dù đã áp dụng mọi biện pháp trong khả năng của mình.

Được miễn trừ nghĩa vụ, trách nhiệm vì dịch Covid-19 – nếu xem đó là sự kiện bất khả kháng?

Giao kết hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên dựa trên nguyên tắc tự do, thiện chí, trung thực và bình đẳng. Theo đó, các bên có thể yêu cầu, đàm phán với nhau việc chấm dứt hoặc thay đổi các điều kiện trong hợp đồng. Tuy nhiên, sự yêu cầu này cần tuân thủ theo nội dung hợp đồng mà các bên đã thoả thuận trước đó, đồng thời phải tuân thủ các quy định pháp luật có liên quan.

Tại Khoản 2 Điều 351 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”. 

Điểm b Khoản 1 Điều 294 Luật Thương mại năm 2005 quy định: “Các trường hợp miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm: …b. Xảy ra sự kiện bất khả kháng…”

Như vậy, theo quy định của pháp luật khi có sự kiện bất khả kháng thì bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ thì không phải chịu trách nhiệm dân sự. Các bên phải xem lại hợp đồng đã ký kết quy định như thế nào về hậu quả khi xảy ra sự kiện bất khả kháng? Bên bị ảnh hưởng có nghĩa vụ thông báo cho bên kia không? Các bên có quyền được gia hạn hợp đồng cho một khoảng thời gian quy định tại hợp đồng hay không? Tùy vào thỏa thuận của các bên trong hợp đồng mà một hoặc các bên có quyền chấm dứt hợp đồng.

Trong trường hợp các bên không quy định về sự kiện bất khả kháng trong hợp đồng, tuy nhiên hợp đồng các bên thuộc điều chỉnh của Luật Thương mại năm 2005 thì các bên có thể gia hạn thời hạn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng hoặc từ chối thực hiện hợp đồng theo quy định tại Điều 296 Luật Thương mại năm 2005.

Trong trường hợp hợp đồng không quy định rõ về các điều khoản sự kiện bất khả kháng, khi doanh nghiệp là bên có nghĩa vụ phải thực hiện, để tránh các vi phạm hợp đồng, doanh nghiệp cần gửi thông báo cho bên còn lại về sự kiện bất khả kháng do dịch Covid -19. Trong thông báo cần ghi rõ, thời điểm bắt đầu sự kiện bất khả kháng; ảnh hưởng của dịch Covid -19, các biện pháp đã hoặc sẽ thực hiện để hạn chế ảnh hưởng của dịch Covid -19; dự liệu các thiệt hại có thể phát sinh và đề nghị bên còn lại xem xét, đàm phán và thống nhất về các biện pháp xử lý tài chính, nghĩa vụ tồn đọng của bên đó trước dịch Covid-19. Các biên bản thỏa thuận, làm việc này cần được lập thành văn bản, phụ lục của Hợp đồng.

Bài viết được thực hiện bởi Luật sư Nguyễn Hoài Thương – Luật sư Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198.

Xem thêm:

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

1. Bài viết trong lĩnh vực pháp luật doanh nghiệp được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.net.vn.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here