Vai trò bảo vệ lao động yếu thế của doanh nghiệp

0
271
Đầu tư từ nguồn vốn
Để có đáp án nhanh nhất trong lĩnh vực pháp luật nêu trên, gọi Tổng đài tư vấn pháp luật (24/7): 1900 6198
Đánh giá post
Theo một nghĩa chung nhất thì những đối tượng được coi là người yếu thế là những đối tượng mà trong những hoàn cảnh giống nhau khi tham gia vào một quan hệ xã hội, quan hệ lao động, quan hệ pháp luật những đối tượng này luôn gặp những bất lợi hơn so với những đối tượng khác trong cùng một hoàn cảnh.
Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198

Quan niệm về người yếu thế trong quan hệ hợp đồng

Theo một nghĩa chung nhất thì những đối tượng được coi là người yếu thế là những đối tượng mà trong những hoàn cảnh giống nhau khi tham gia vào một quan hệ xã hội, quan hệ lao động, quan hệ pháp luật những đối tượng này luôn gặp những bất lợi hơn so với những đối tượng khác trong cùng một hoàn cảnh. Nói cách khác, những đối tượng này phải thực hiện theo một cách hoàn toàn bất lợi với họ trong quan hệ đó. Tùy theo mục tiêu nghiên cứu, xem xét và quan hệ mà họ tham gia người ta có thể xếp nhóm người nhất định, chủ thể nhất định thuộc đối tượng là những người yếu thế.
Ví dụ, người khuyết tật, người nghèo, người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người thuộc nhóm giới tính khác (đồng tính, song tính, chuyển giới-LGBTI), người cao tuổi… trong mối quan hệ giữa chính quyền với người dân thì người dân luôn luôn ở vị thế yếu thế hơn, giữa người lao động với người sử dụng lao động thì người lao động thường ở vị thế yếu hơn trong quan hệ lao động-hợp đồng lao động. Điều đó cho thấy, tùy theo tiêu chí, phạm vi và mục tiêu cần nghiên cứu mà việc xác định người yếu thế, nhóm người được coi là yếu thế sẽ khác nhau.
Như vậy, sẽ có rất nhiều nhóm người có thể được xếp vào diện nhóm người yếu thế xuất phát từ tuổi tác, từ những khiếm khuyết, hạn chế về thể chất, tâm thần…,  nên thường gặp khó khăn bất lợi trong cuộc sống, trong quan hệ xã hội. Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa một người bình thường, có đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của mình thì sẽ không là người yếu thế trong những quan hệ nhất định. Trong một quan hệ xã hội nhất định, dù thuộc trường hợp nào (nhóm người, một người), những đối tượng này gặp những thiệt thòi, bất lợi thì khi đó phải xác định họ là người yếu thế.
Từ phân tích nêu trên có thể rút ra hai nhận xét sau:
Một là, khi tham gia quan hệ hợp đồng, không phải những nhóm người mà xã hội coi là yếu thế mới bị yếu thế và cũng không đồng nhất khi họ thuộc nhóm người được coi là yếu thế sẽ luôn yếu thế;
Hai là, trong quan hệ xã hội nói chung, có chủ thể là người bình thường và vị thế của họ bình đẳng với các chủ thể khác, nhưng trong những quan hệ hợp đồng cụ thể, có thể họ lại là người yếu thế.
Do đó, trong quan hệ hợp đồng, để xác định có bên nào là bên yếu thế hay không phải xem xét nó trong mối quan hệ cụ thể giữa hai bên.
Thực tiễn tranh chấp hợp đồng liên quan đến người yếu thế
Một trong những trường hợp thường gặp trong các vụ tranh chấp di sản thừa kế mà người để lại di sản theo di chúc (là một loại giao dịch) đã không dành cho những người được coi là người yếu thế hưởng một phần di sản. Các đối tượng đó là con chưa thành niên, con đã thành niên mà không có khả năng lao động. Trong trường hợp này, các Tòa án đều vận dụng Điều 644 Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 (Điều 669 BLDS năm 2005) để cho họ được hưởng 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật. Trường hợp người lập di chúc chỉ cho các đối tượng nêu trên được hưởng ít hơn 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật, Tòa án sẽ chia di sản cho họ đủ 2/3 suất thừa kế theo pháp luật.
Chúng tôi cho rằng, quy định hiện hành của pháp luật dân sự mới chỉ tính đến yếu tố đạo lý và mối quan hệ trách nhiệm, nghĩa vụ của người để lại di sản (dù tính toán này là đúng và cần thiết) chứ chưa tính đến yếu tố cần bảo vệ người yếu thế.  Bởi lẽ, trong số các đối tượng mà BLDS đề cập tới dù đã có thành phần người yếu thế nhưng chưa phải là tất cả. Ngoài đối tượng vị thành niên, người già (bố, mẹ người để lại di sản trong nhiều trường hợp họ cũng là người già), đối tượng là người đã thành niên, BLDS mới chỉ tính tới người không có khả năng lao động để tự nuôi mình, mà chưa tính đến đối tượng ít nhiều còn khả năng lao động nhưng hạn chế do “có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi” thu nhập của họ thường rất thấp và bấp bênh, gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống.
Đối với những giao dịch, hợp đồng được xác lập mà một bên là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện dẫn đến những người yếu thế bị thiệt hại bị khởi kiện thì đều được các Tòa án thụ lý, giải quyết. Tùy diễn biến quá trình giao kết, thực hiện hợp đồng, yêu cầu của mỗi bên và diễn biến trong quá trình tố tụng, Tòa án đều có quyết định phù hợp.
Thực tiễn cho thấy, khó khăn mà Tòa án thường gặp trong quá trình giải quyết đối với những trường hợp nêu trên là: khoảng cách từ thời điểm xác lập, thực hiện với thời điểm dẫn đến tranh chấp thường khá xa nhau, trong khi việc thu thập tài liệu, chứng cứ để có thể kết luận, khi giao kết, thực hiện hợp đồng, các đối tượng này ở trong tình trạng “mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện” dẫn đến họ bị thiệt hại là rất phức tạp. Vì vậy, để có đủ căn cứ kết luận, tại thời điểm giao kết, thực hiện hợp đồng, các chủ thể này đang ở trong tình trạng mất năng lực hành vi dân sự là không đơn giản. Trong pháp luật tố tụng cũng chưa có những quy định nhằm hỗ trợ cho những đối tượng này. Do đó, những người đại diện cho họ phải thực hiện tất cả những gì mà luật tố tụng yêu cầu như các chủ thể khác trong quá trình chứng minh. Và chỉ khi có đủ tài liệu, chứng cứ chứng minh thì quyền lợi của các đối tượng này mới được bảo vệ.
Như vậy, pháp luật tố tụng hiện hành, một mặt tiếp cận trên tinh thần bình đẳng, ngang bằng không có sự ưu ái nào về nghĩa vụ chứng minh; mặt khác, vô tình đã đặt các đối tượng yếu thế nêu trên ở thế không thuận lợi trong tố tụng. Bởi lẽ, bình đẳng thực sự chỉ xuất hiện khi cả hai bên trong cùng một vị thế, có cùng một điều kiện về khả năng, sức mạnh (sức mạnh thể chất, tinh thần, trí tuệ, kinh tế, khả năng nhận thức, hiểu biết…). Một khi có sự chênh lệch đáng kể những yếu tố nêu trên thì bình đẳng chỉ còn tồn tại trên lý thuyết. Vì vậy, cần phải tiếp cận một cách biện chứng, toàn diện, cụ thể phán ánh tính đặc thù của đối tượng trong quá trình xây dựng pháp luật tố tụng mới tạo ra sự bình đẳng thực sự cho các chủ thể này, đó là điều cần tính đến.

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

  1. Bài viết nêu trên được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.net.vn.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here