Góp vốn thành lập công ty

0
555
Tự quyết toán thuế
Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198
5/5 - (2 bình chọn)

Nhắc tới công ty có nghĩa là đã nhắc tới một thực thể tin. doanh mà được tạo lập trên cơ sở sự góp vốn của thành viên hoi các thành viên. Bởi vậy góp vốn là nội dung quan trọng có tính chất quyết định trong việc thành lập công ty.

Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198

Tính chất của hành vi góp vốn

Nghĩa vụ căn bản của thành viên công ty được pháp luật ấn định là nghĩa vụ góp vốn. Đối với công ty nhiều thành viên, khi đã cam kết góp vốn, thành viên đã tự ràng buộc mình trở thành người thụ trái hay con nợ của công ty. Phần vốn góp của các thành viên đều trở thành tài sản của công ty do chính họ tạo dựng nên.

Vì vậy công ty – một pháp nhân riêng biệt – là trái chủ của những người chủ của mình.  Nếu thành viên không góp vốn hoặc góp vốn công ty có quyền đòi. Với việc góp vốn chậm, thành viên phải chịu trả lãi mà không cần phải có điều kiện là đã bị thúc nợ,  và có thể phải bồi thường thiệt hại mà không cần phải chứng minh sự gian tình. Tuy nhiên vấn đề này còn phụ thuộc vào các quy chế của từng hình thức công ty. Phản ánh các quan điểm , Bộ luật Dân sự Bắc Kỳ 1931 có quy định: “Nếu khế ước không kỳ hạn hay một điều kiện gì, thì chính ngày hôm ấy, các thành An phải nộp phần mình đã hứa góp, nếu không thì đương nhiên Ai trả hoa lợi cùng lời lãi và đồng thời phải bồi tổn hại vì lẽ hâm trễ, dù là tiền bạc cũng vậy” (Điều thứ 1205). Hoàng Việt Trung Kỳ Hộ Luật (Bộ luật Dân sự Trung Kỳ 1936) qui định:

“Mỗi hội viên đối với hội là người mắc nợ về phần mình đã góp, và phải góp ngay vào ngày hội thành lập; nếu không thời đương nhiên phải trả hoa lợi hay là tiền lời của phần mình cho hội, chiều theo số tiền lời luật định, nếu phần góp ấy là một số tiền, và có khi lại phải bồi tổn hại nhiều vì lẽ góp chậm nữa” (Điều thứ 1437).

Góp vốn hay điều khoản về vốn là một điều khoản thiết yếu của hợp đồng thành lập công ty. Chẳng hạn pháp luật về công ty của Malaysia và Singapore quan niệm: Trừ khi là một công ty có trách nhiệm vô hạn, hợp đồng thành lập của công ty nhất thiết phải chứa đựng điều khoản về vốn (capital clause) mà trong phải chứa đựng một điều khoản vốn được phép và phân chia vốn đó phân thành các cổ phần với số lượng ân định trở thành giới hạn mà công ty có thể được phép quyên góp.

Bản chất của hành vi góp vốn

Công ty thường được xem xét trên hai phương diện: kinh tế và pháp lý. Trên phương diện kinh tế, công ty được thể kinh doanh. Trên phương diện pháp lý, Công hành vi pháp lý. Do đó góp vốn cũng được hiểu theo. và nghĩa pháp lý, có nghĩa là cần xem xét khái niên phương diện kinh tế và từ phương diện pháp lý. Nếu vốn, xét từ phương diện kinh tế, là việc tạo ra tài sản cho công ty nhằm bảo đảm cho những chi phí trong hoạt động của cô bảo đảm quyền lợi cho các chủ nợ, thì góp vốn, xét từ phương diện pháp lý, là hành vi chuyển giao tài sản hay đưa tài sản vào sử dụng để đổi lấy quyền lợi công ty. Hành vi đổi lấy quyền khác với hành vi mua bán hay hành vi cho thuê tài sản ở trong hành vi mua bán hay cho thuê, khi chuyển giao quyề hữu tài sản hay quyền hưởng dụng tài sản, thì người chuyển gi. có quyền lợi là được nhận một khoản tiền từ giá bán hay giá thuê còn trong hành vi góp vốn, khi chuyển giao quyền sở hữu hay phương diện: kinh tế được xem là thực công ty được xem là hiểu theo nghĩa kinh tế – khái niệm góp vốn từ pháp lý. Nếu như góp tài sản cho công, xét từ phương đưa tài sản vào sử dụng quyền hưởng dụng tài sản cho công ty, thì người góp vốn không nhận được bất kể khoản tiền nào từ việc chuyển giao đó mà chỉ nhận được quyền lợi công ty có thể chuyển đổi thành tiền, tuy nhiên còn phụ thuộc vào từng hình thức công ty và qui chế riêng có thể có.

Khi người ta góp tài sản vào công ty, thì tài sản đó trở thành đối tượng sở hữu của công ty bởi hành vi thành lập công ty đã tạo ra một thực thể tách biệt hay một pháp nhân có sản nghiệp riêng: Thành viên của công ty có được từ hành vi góp vốn này một quyền lợi đối với công ty tương ứng với phần vốn góp của mình xét theo lẽ thông thường. Đối với công ty cổ phần, các quyền lợi và nghĩa vụ của thành viên còn phụ thuộc vào loại cổ phần được quy định trong hợp đồng thành lập công ty hay điều lệ của công ty mà vốn của nó được chia ra thành các cổ phần.

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest
  • Bài viết trong lĩnh vực pháp luật hôn nhân được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  • Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  • Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.net.vn.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here