Bất khả kháng: Cơ hội hay thách thức đối với doanh nghiệp?

0
377
bảo hộ thương hiệu
Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn pháp luật: 19006198
5/5 - (2 bình chọn)

Nghĩa vụ trả lại tài sản, có thể có các tên gọi khác nhau trong các hợp đồng khác nhau, nhưng có chung một bản chất là khi hết hạn hợp đồng thì một bên đã nhận tài sản từ bên kia có nghĩa vụ trả lại tài sản cho bên kia. 

Quyền sử dụng
Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn pháp luật: 19006198

Bất khả kháng – căn cứ miễn trách nhiệm dân sự

Khi một nghĩa vụ được phát sinh trên cơ sở hợp đồng hoặc trên cơ sở luật định thì chủ thể có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ đó. Tuy nhiên, thực tế có thể xảy ra trường hợp bên có nghĩa vụ không thể thực hiện nghĩa vụ đó dù đã áp dụng mọi biện pháp hợp lý. Pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật của nhiều nước đều có quy định về các căn cứ miễn trách nhiệm, và một trong số đó là bất khả kháng. Quy định về bất khả kháng là căn cứ miễn trách nhiệm dân sự, hoãn thực hiện nghĩa vụ, điều chỉnh nghĩa vụ… được quy định cả trong Bộ luật dân sự (BLDS) với ý nghĩa là một đạo luật nền tảng điều chỉnh các quan hệ tư, và trong nhiều đạo luật chuyên ngành, như Luật Thương mại năm 2005, Luật Xây dựng năm 2014, Luật Đầu tư năm 2014, Luật Hàng không dân dụng năm 2014…

BLDS năm 2015 có một quy định chung về bất khả kháng được đặt trong phần về thời hạn và thời hiệu. Cụ thể, Điều 156 điều chỉnh vấn đề về thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự. Theo Điều 156, thời gian xảy ra bất khả kháng không được tính vào thời hiệu. Nhằm mục đích đó, Điều 156 đưa ra định nghĩa thế nào là bất khả kháng; theo đó, “Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép”.

Thông thường, một quy định chuyên biệt được đặt trong một điều luật chuyên biệt (về thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện) thì chỉ áp dụng cho quy định đó, nhưng trong thực tế, quy định của Điều 156 đã được áp dụng làm căn cứ miễn trách nhiệm dân sự nói chung. Ngoài định nghĩa tại Điều 156 nêu trên, BLDS năm 2015 không có bất kỳ định nghĩa nào khác về bất khả kháng, mà chỉ có các quy định về bất khả kháng là căn cứ miễn trách nhiệm dân sự nói chung và trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng và trong từng chế định cụ thể thuộc hai lĩnh vực này. Đây là một điều khác biệt của pháp luật Việt Nam so với pháp luật ở một số quốc gia trên thế giới.

Ngoài các quy định chung và chuyên biệt được quy định trong BLDS, chúng ta còn thấy bất khả kháng được quy định trong các đạo luật chuyên ngành là căn cứ miễn trách nhiệm, kéo dài thực hiện hợp đồng, điều chỉnh hợp đồng, điều chỉnh dự án đầu tư… Cụ thể, bất khả kháng được quy định là căn cứ để: miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm; kéo dài thời hạn, từ chối thực hiện hợp đồng; điều chỉnh dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn nhà nước; điều chỉnh hợp đồng xây dựng; giãn tiến độ đầu tư; miễn tiền thuê đất trong thời gian tạm ngừng hoạt động để khắc phục hậu quả do bất khả kháng gây ra; miễn trách nhiệm khi không vận chuyển hành lý cùng với hành khách trên một chuyến bay; miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với người bảo hiểm… Các văn bản luật chuyên ngành này không định nghĩa thế nào là bất khả kháng và vì vậy, quy định của BLDS sẽ được áp dụng theo nguyên tắc luật chung được áp dụng để bổ khuyết cho luật chuyên ngành.

Bất khả kháng – căn cứ miễn thực hiện nghĩa vụ hoàn trả tài sản?

Như đã trình bày ở trên, nghĩa vụ hoàn trả tồn tại trong rất nhiều quan hệ tài sản. Cụ thể, trong hợp đồng vay tài sản, “khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng”. Đây là quy định chung tại Điều 463 BLDS năm 2015. Sau đó, Điều 466 BLDS quy định rõ hơn về nghĩa vụ hoàn trả; theo đó, “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý”. Đối với hợp đồng thuê tài sản, bên thuê “phải trả lại tài sản thuê trong tình trạng như khi nhận, trừ hao mòn tự nhiên…”. Đối với hợp đồng thuê khoán tài sản, khi chấm dứt hợp đồng thuê khoán, bên thuê khoán “phải trả lại tài sản thuê khoán ở tình trạng phù hợp với mức độ khấu hao đã thoả thuận”. Trong hợp đồng mượn tài sản, bên mượn “phải trả lại tài sản đó khi hết thời hạn mượn hoặc mục đích mượn đã đạt được”. Bên mượn tài sản phải “trả lại tài sản mượn đúng thời hạn; nếu không có thoả thuận về thời hạn trả lại tài sản thì bên mượn phải trả lại tài sản ngay sau khi mục đích mượn đã đạt được”. Tương tự, trong hợp đồng gửi giữ tài sản, “bên giữ nhận tài sản của bên gửi để bảo quản và trả lại chính tài sản đó cho bên gửi khi hết thời hạn hợp đồng”[17]. Nếu không có thỏa thuận khác, bên giữ phải trả lại chính tài sản đã nhận và cả hoa lợi nếu có tại nơi gửi giữ theo đúng thời hạn.

Do các hợp đồng nêu trên đều là là các hợp đồng làm phát sinh nghĩa vụ dân sự và để biết bất khả kháng có thể được dùng làm căn cứ miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm nghĩa vụ phát sinh từ các hợp đồng đó hay không thì có thể áp dụng quy định chung về trách nhiệm dân sự. Cụ thể, khoản 2 Điều 351 BLDS năm 2015 quy định: “Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”. Tuy nhiên, quy định này đề cập tới nghĩa vụ dân sự nói chung, chứ không phải một nghĩa vụ dân sự cụ thể nào, nên không đủ rõ để chúng ta trả lời được câu hỏi bất khả kháng có thể được sử dụng làm căn cứ miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm mọi nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng, trong đó có nghĩa vụ trả lại tài sản, hay không.

Vì vậy, câu trả lời cần được tìm trong chính các chế định liên quan đến các hợp đồng chuyên biệt này. Chúng tôi thấy rằng, tất cả các chế định trên đều quy định về nghĩa vụ trả lại tài sản, nhưng không quy định trường hợp miễn trách nhiệm khi bên có nghĩa vụ hoàn trả không thực hiện nghĩa vụ của mình. Chỉ riêng đối với hợp đồng thuê khoán tài sản và hợp đồng gửi giữ tài sản thì BLDS có quy định về bất khả kháng. Đối với hợp đồng thuê khoán tài sản, BLDS quy định về bất khả kháng nhưng quy định này chỉ liên quan đến giảm tiền thuê khoán.

Cụ thể, việc giảm tiền thuê khoán do các bên thỏa thuận và nếu các bên không có thỏa thuận và nếu hoa lợi, lợi tức bị mất ít nhất là một phần ba do sự kiện bất khả kháng thì bên thuê khoán có quyền yêu cầu giảm hoặc miễn tiền thuê khoán. Trường hợp đối tượng của thuê khoán là gia súc thì trong thời hạn thuê khoán gia súc, bên thuê khoán được hưởng một nửa số gia súc sinh ra và phải chịu một nửa thiệt hại về gia súc thuê khoán do sự kiện bất khả kháng. Đối với hợp đồng gửi giữ tài sản, BLDS có quy định về bất khả kháng nhưng chỉ liên quan đến miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp tài sản gửi giữ bị mất hoặc bị hư hỏng do bất khả kháng; cụ thể, bên gửi tài sản có quyền “yêu cầu bồi thường thiệt hại, nếu bên giữ làm mất, hư hỏng tài sản gửi giữ, trừ trường hợp bất khả kháng”. Vì vậy, có thể thấy, các quy định về bất khả kháng trong hợp đồng thuê khoán chỉ áp dụng đối việc điều chỉnh các nghĩa vụ phát sinh từ thỏa thuận của các bên, không áp dụng đối với nghĩa vụ hoàn trả vốn là nghĩa vụ luật định. Đối với hợp đồng thuê khoán, bất khả kháng chỉ là căn cứ miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

  1. Bài viết trong lĩnh vực pháp luật doanh nghiệp được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật:1900 6198, E-mail: info@everest.net.vn.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here