Quyền và nghĩa vụ của chủ doanh nghiệp tư nhân theo quy định pháp luật

Bởi Đặng Thu Trang - 05/02/2023
view 26
comment-forum-solid 0

Theo quy định pháp luật hiện hành, chủ doanh nghiệp tư nhân có tất cả các quyền và nghĩa vụ của người thành lập, quản lý doanh nghiệp. Hiện nay, với những đặc điểm riêng biệt của doanh nghiệp tư nhân, pháp luật cũng có những quy định đặc thù cho chủ doanh nghiệp tư nhân. Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định về quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp nói chung nhưng đối với doanh nghiệp tư nhân thì các quyền, nghĩa vụ đó chính là quyền, nghĩa vụ của chủ doanh nghiệp tư nhân.

I. Quyền của chủ doanh nghiệp tư nhân theo quy định pháp luật hiện hành

1- Quyền cho thuê doanh nghiệp tư nhân

Chủ doanh nghiệp tư nhân thực hiện cho thuê doanh nghiệp tư nhân theo quy định tại Điều 191 Luật Doanh nghiệp năm 2020:

Điều 191. Cho thuê doanh nghiệp tư nhân

Chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền cho thuê toàn bộ doanh nghiệp tư nhân của mình nhưng phải thông báo bằng văn bản kèm theo bản sao hợp đồng cho thuê có công chứng đến Cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan thuế trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày hợp đồng cho thuê có hiệu lực. Trong thời hạn cho thuê, chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật với tư cách là chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân. Quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của chủ sở hữu và người thuê đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân được quy định trong hợp đồng cho thuê.”

Cho thuê doanh nghiệp tư nhân được hiểu là việc chủ doanh nghiệp tư nhân chuyển nhượng quyền chiếm hữu, sử dụng của doanh nghiệp cho người khác trong khoảng thời gian nhất định. Việc cho thuê ở đây là cho thuê toàn bộ doanh nghiệp, bao gồm những tài sản hữu hình như nhà xưởng, trụ sở, máy móc và cả những tài sản vô hình như tên doanh nghiệp, uy tín của doanh nghiệp…

Việc cho thuê doanh nghiệp không làm chấm dứt tư cách pháp lý của doanh nghiệp đó, không làm thay đổi chủ sở hữu của doanh nghiệp tư nhân, vì vậy trong thời hạn cho thuê, chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về toàn bộ các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Mối quan hệ giữa chủ doanh nghiệp tư nhân và người thuê doanh nghiệp là mối quan hệ thiết lập trên cơ sở hợp đồng, các bên phải chịu trách nhiệm với nhau theo các điều khoản đã cam kết và cùng chịu trách nhiệm trước pháp luật nếu phá vỡ.

Ngoài ra, khi cho thuê doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp tư nhân có nghĩa vụ thông báo bằng văn bản kèm theo bản sao hợp đồng cho thuê có công chứng đến Cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan thuế trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày hợp đồng cho thuê có hiệu lực.

2- Quyền bán doanh nghiệp tư nhân

Điều 192 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định về bán doanh nghiệp tư nhân như sau:

Điều 192. Bán doanh nghiệp tư nhân

  1. Chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền bán doanh nghiệp tư nhân của mình cho cá nhân, tổ chức khác.
  2. Sau khi bán doanh nghiệp tư nhân, chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp tư nhân phát sinh trong thời gian trước ngày chuyển giao doanh nghiệp, trừ trường hợp chủ doanh nghiệp tư nhân, người mua và chủ nợ của doanh nghiệp tư nhân có thỏa thuận khác.
  3. Chủ doanh nghiệp tư nhân, người mua doanh nghiệp tư nhân phải tuân thủ quy định của pháp luật về lao động.
  4. Người mua doanh nghiệp tư nhân phải đăng ký thay đổi chủ doanh nghiệp tư nhân theo quy định của Luật này.”

Việc bán doanh nghiệp tư nhân được hiểu là việc chuyển giao toàn bộ tài sản trong doanh nghiệp cho người khác. Sau khi hoàn tất các thủ tục mua bán, bên mua phải đăng ký kinh doanh lại để hoạt động trên cơ sở doanh nghiệp tư nhân đã mua.

Về nguyên tắc chung, việc chủ doanh nghiệp bán doanh nghiệp tư nhân cho chủ thể khác vẫn không làm chấm dứt đi các nghĩa vụ mà doanh nghiệp đang mang và chưa thực hiện hết. Chủ thể trực tiếp chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước người ba vẫn là chủ doanh nghiệp tư nhân cũ. Nguyên tắc này chỉ bị thay đổi nếu giữa chủ doanh nghiệp tư nhân cũ, người mua doanh nghiệp tư nhân mới và chủ nợ của doanh nghiệp tư nhân có thỏa thuận khác đi.

3- Thực hiện quyền của chủ doanh nghiệp tư nhân trong một số trường hợp đặc biệt

Vấn đề này được quy định tại Điều 193 Luật Doanh nghiệp năm 2020 như sau:

Điều 193. Thực hiện quyền của chủ doanh nghiệp tư nhân trong một số trường hợp đặc biệt

  1. Trường hợp chủ doanh nghiệp tư nhân bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù, đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc thì ủy quyền cho người khác thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình.
  2. Trường hợp chủ doanh nghiệp tư nhân chết thì người thừa kế hoặc một trong những người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật là chủ doanh nghiệp tư nhân theo thỏa thuận giữa những người thừa kế. Trường hợp những người thừa kế không thỏa thuận được thì đăng ký chuyển đổi thành công ty hoặc giải thể doanh nghiệp tư nhân đó.
  3. Trường hợp chủ doanh nghiệp tư nhân chết mà không có người thừa kế, người thừa kế từ chối nhận thừa kế hoặc bị truất quyền thừa kế thì tài sản của chủ doanh nghiệp tư nhân được xử lý theo quy định của pháp luật về dân sự.
  4. Trường hợp chủ doanh nghiệp tư nhân bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì quyền và nghĩa vụ của chủ doanh nghiệp tư nhân được thực hiện thông qua người đại diện.
  5. Trường hợp chủ doanh nghiệp tư nhân bị Tòa án cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định thuộc phạm vi ngành, nghề kinh doanh của doanh nghiệp thì chủ doanh nghiệp tư nhân tạm ngừng, chấm dứt kinh doanh ngành, nghề có liên quan theo quyết định của Tòa án hoặc chuyển nhượng doanh nghiệp tư nhân cho cá nhân, tổ chức khác.”

Luật Doanh nghiệp năm 2014 có quy định về thực hiện trách nhiệm, quyền hạn và nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên trong một số trường hợp đặc biệt mà người này không thể thực hiện được quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của mình để đảm bảo lợi ích của chính họ, của doanh nghiệp, người lao động, khách hàng, nhà nước và bên có liên quan. Về cơ bản, chủ doanh nghiệp tư nhân có địa vị pháp lý tương tự như Chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, chỉ khác về mức độ trách nhiệm – chủ sở hữu là trách nhiệm hữu hạn; còn chủ doanh nghiệp tư nhân là trách nhiệm vô hạn. Tuy nhiên, Luật doanh nghiệp năm 2014 không có quy định tương tự như đối với chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân. Đồng thời, thực tế đã xảy ra nhiều trường hợp chủ doanh nghiệp tư nhân bị tạm giam, bị kết án tù… nhưng không rõ cách thức thực hiện quyền của chủ doanh nghiệp tư nhân trong trường hợp này. Do đó, Luật Doanh nghiệp năm 2020 đã bổ sung quy định về thực hiện quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ chủ doanh nghiệp tư nhân trong một số trường hợp đặc biệt, như: chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự, bị tạm giam, kết án tù, bị tước quyền hành nghề...

II. Nghĩa vụ của chủ doanh nghiệp tư nhân theo quy định pháp luật hiện hành

- Đáp ứng đù điều kiện kinh doanh khi kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện theo quy định của Luật Đầu tư và bảo đảm duy trì điều kiện đầu tư kinh doanh đó trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh.

- Tổ chức công tác kế toán, lập và nộp báo cáo tài chính trung thực, chính xác, đúng thời hạn theo quy định của pháp luật về kế toán, thống kê.

- Kê khai thuế, nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật.Doanh nghiệp tư nhân phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp vì đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp là “doanh nghiệp” được thành lập theo quy định của pháp luật, bao gồm cả doanh nghiệp tư nhân. Chủ doanh nghiệp tư nhân với tư cách là một cá nhân sẽ có nghĩa vụ nộp thuế thu nhập cá nhân đối với các khoản thu nhập khác ngoài thu nhập tại doanh nghiệp tư nhân theo quy định của Luật Thuế thu nhập cá nhân.

- Bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động theo quy định của pháp luật về lao động.

- Bảo đảm và chịu trách nhiệm về chất lượng hàng hoá, dịch vụ theo tiêu chuẩn do pháp luật quy định hoặc tiêu chuẩn đã đăng ký hoặc công bố.

- Thực hiện đầy đủ, kịp thời các nghĩa vụ về đăng ký doanh nghiệp, đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp, công khai thông tin về thành lập và hoạt động, báo cáo và các nghĩa vụ khác theo quy định của Luật Doanh nghiệp và quy định khác của pháp luật có liên quan.

- Chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác của thông tin kê khai trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và các báo cáo; trường hợp phát hiện thông tin đã kê khai hoặc báo cáo thiếu chính xác, chưa đầy đủ thì phải kịp thời sửa đổi, bổ sung các thông tin đó.

- Tuân thủ quy định của pháp luật về quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, bình đẳng giới, bảo vệ tài nguyên, môi trường, bảo vệ di tích lịch sử - văn hoá và danh lam thắng cảnh.

- Thực hiện nghĩa vụ về đạo đức kinh doanh để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng và người tiêu dùng.

 

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

  1. Bài viết trong lĩnh vực pháp luật đầu tư được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.net.vn.

TVQuản trị viênQuản trị viên

Xin chào quý khách. Quý khách hãy để lại bình luận, chúng tôi sẽ phản hồi sớm

Trả lời.
Thông tin người gửi
Bình luận
Nhấn vào đây để đánh giá
024 66 527 527
2.04526 sec| 1046.633 kb