Tiền hợp đồng: Những vấn đề pháp lý

Giai đoạn tiền hợp đồng là một giai đoạn rất dễ có sự gian lận và lạm dụng ở mọi góc độ.

0
283
Chế độ trách nhiệm
Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198
Đánh giá post

Giai đoạn tiền hợp đồng là giai đoạn đầu tiên liên quan đến hợp đồng. Trong giai đoạn này các bên tiến hành đàm phán với nhau để đi đến sự ưng thuận giao kết hợp đồng. Để đạt được sự ưng thuận thì trong giai đoạn này các bên phải cung cấp cho nhau các thông tin cần thiết liên quan đến nội dung, đối tượng của hợp đồng.

Quyền sở hữu trí tuệ
Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198

Giai đoạn tiền hợp đồng

Do tính chất quan trọng của các thông tin mà các bên cung cấp cho nhau trong giai đoạn này nên xu hướng trong các hệ thống pháp luật hiện nay đều thừa nhận nghĩa vụ bảo mật thông tin trong giai đoạn tiền hợp đồng là một loại nghĩa vụ pháp lý. Không nằm ngoài xu hướng chung đó, pháp luật của Việt Nam cũng đã có các quy định chung và các quy định chuyên biệt về nghĩa vụ bảo mật thông tin giai đoạn tiền hợp đồng. Tuy nhiên, các quy định này hiện nay vẫn còn một số tồn tại nhất định dẫn đến vướng mắc trong thực tiễn áp dụng. Trong bài viết này, tác giả trung phân tích các quy định về nghĩa vụ bảo mật thông tin giai đoạn tiền hợp đồng theo Bộ luật dân sự (BLDS) 2015 và một số quy định chuyên biệt, từ đó, đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật.

Thuật ngữ ‘tiền hợp đồng” đã được đề cập trong rất nhiều các công trình khoa học cũng như trong các văn bản pháp luật. Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có “một định nghĩa chính thức cụ thể, rõ ràng về giai đoạn tiền hợp đồng trong các văn bản pháp lý quốc tế và pháp luật của các quốc gia” (Lê Trường Sơn, 2015, tr.26).

Trên cơ sở nghiên cứu học lý cũng như thực tiễn có thể xác định giai đoạn tiền hợp đồng là giai đoạn diễn ra trước khi có hợp đồng. Yếu tố đầu tiên khi xem xét quan hệ tiền hợp đồng là lời mời giao kết hợp đồng. Lời mời giao kết hợp đồng không phải là một đề nghị giao kết hợp đồng mà chỉ là một sự bày tỏ ý định tạo lập hợp đồng, là điểm khởi đầu của quá trình đàm phán hợp đồng. Lời mời giao kết hợp đồng có thể được thể hiện dưới nhiều dạng khác nhau như quảng cáo, trưng bày giới thiệu hàng hóa,…

Nghĩa vụ bảo mật thông tin giai đoạn tiền hợp đồng

Giai đoạn tiền hợp đồng là một giai đoạn khá đặc điệt, có vai trò tiên quyết đối với việc hợp đồng sau đó có được giao kết hay không. Trong giai đoạn này, để đi đến sự ưng thuận các bên phải bày tỏ ý chí với nhau bằng cách đưa ra các ý tưởng, trao đổi các ý kiến, cung cấp cho nhau các thông tin cần thiết có liên quan đến hợp đồng. Thông tin trong giai đoạn này có ý nghĩa quan trọng giúp cho các bên hiểu rõ về nội dung, đối tượng của hợp đồng mà mình sẽ giao kết để đi đến sự ưng thuận giao kết cũng như chịu trách nhiệm về những cam kết của mình sau đó.

Có thể nói, nếu việc cung cấp thông tin trong giai đoạn tiền hợp đồng là rất quan trọng, tạo nên sự thống nhất ý chí giữa các bên thì việc bảo mật thông tin trong giai đoạn này cũng là hết sức cần thiết, điều này xuất phát từ hai lý do cơ bản sau:

Một là, tạo sự cân bằng về quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hợp đồng

Xuất phát từ nguyên tắc tự do hợp đồng đòi hỏi các bên khi tham gia quan hệ hợp đồng phải “có nghĩa vụ tự tìm kiếm thông tin trước khi đưa ra quyết định từ chối hay chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng của bên kia” , trong khi đó tình trạng thông tin bất đối xứng xuất hiện khá phổ biến trong nhiều loại hợp đồng và không phải trong trường hợp nào các bên cũng có thể dễ dàng tìm kiếm được các thông tin cần thiết có liên quan đến đối tượng của hợp đồng. Do vậy, trong nhiều trường hợp pháp luật đã quy định các bên phải có nghĩa vụ cung cấp cho nhau các thông tin cần thiết có thể ảnh hưởng tới việc chấp nhận giao kết hợp đồng (chẳng hạn, khoản 1 Điều 387 BLDS 2015 quy định: “Trường hợp một bên có thông tin ảnh hưởng đến việc chấp nhận giao kết hợp đồng của bên kia thì phải thông báo cho bên kia biết”).

Nếu một bên không cung cấp các thông tin cần thiết cho bên kia mà gây ra thiệt hại thì phải bồi thường; trường hợp, hợp đồng đã được xác lập thì bên có quyền được cung cấp thông tin có quyền hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại (chẳng hạn, Điều 443 BLDS 2015 quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin và hướng dẫn cách sử dụng trong hợp đồng mua bán tài sản: nếu bên bán vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin cần thiết và hướng dẫn cách sử dụng cho bên mua dẫn đến bên mua không đạt được mục đích giao kết hợp đồng thì bên mua có quyền hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bổi thường thiệt hại). Như vậy, để đảm bảo cho các bên có được các thông tin cần thiết liên quan đến đối tượng của hợp đồng, giúp các bên “thực sự tự nguyện giao kết” pháp luật đã quy định nghĩa vụ cung cấp thông tin là một loại nghĩa vụ pháp lý, nếu vi phạm sẽ phải gánh chịu các biện pháp chế tài, do đó, khi một bên đã cung cấp các thông tin của mình cho bên kia thì bên nhận được thông tin phải sử dụng đúng mục đích và có nghĩa vụ bảo mật các thông tin đó, nếu vi phạm thì cũng phải gánh chịu các biện pháp chế tài, có như vậy mới đảm bảo sự cân bằng quyền và nghĩa vụ của các bên.

Hai là, bảo vệ sự an toàn cho các thông tin được cung cấp

Trong quá đàm phán, các bên có thể cung cấp cho nhau những thông tin quan trọng mà mình đang nắm giữ, có được. Những thông tin mà một bên đưa ra có thể là bí mật kinh doanh, công thức, bí quyết để cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm, thiết kế sản phẩm, công nghệ phát triển sản phẩm mới… những thông tin này là tài sản quan trọng của doanh nghiệp. Nếu sau đó hợp đồng được giao kết giữa các bên thì vấn đề bảo mật thông tin sẽ được xác định theo hợp đồng. Nếu sau đó vì bất kì lý do gì, hợp đồng không được giao kết thì bên đã cung cấp thông tin có thể đứng trước những rủi ro tiềm ẩn nếu không được bảo vệ thích đáng. Các thông tin mà một bên đã cung cấp có thể bị bên nhận được thông tin hay người thứ ba sử dụng trái với ý muốn của bên cung cấp thông tin, gây bất lợi, thiệt hại cho bên cung cấp thông tin. Vì vậy, cần thiết phải có cơ chế điều chỉnh đảm bảo, khi một bên nhận được các thông tin của bên kia thì phải có nghĩa vụ bảo mật các thông tin đó nhằm ngăn ngừa rủi ro cho bên đã cung cấp thông tin.

Có thể nói, giai đoạn tiền hợp đồng là một giai đoạn rất dễ có sự gian lận và lạm dụng ở mọi góc độ. Đây cũng là giai đoạn tương đối độc lập với các giai đoạn khác liên quan đến hợp đồng. Do vậy, cùng với nghĩa vụ cung cấp thông tin, nghĩa vụ bảo mật thông tin ở giai đoạn này cần được quy định là một loại nghĩa vụ pháp lý độc lập nhằm xác định rõ các quyền và nghĩa vụ cho các bên liên quan.

Một số quy định về nghĩa vụ bảo mật thông tin trong pháp luật Việt Nam

Pháp luật Việt Nam đã từng bước ghi nhận nghĩa vụ bảo mật thông tin trong giai đoạn tiền hợp đồng. Tuy nhiên, qua khảo cứu các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan có thể thấy vấn đề về nghĩa vụ bảo mật thông tin giai đoạn tiền hợp đồng chưa thực sự được quan tâm đúng mức. Trong một số ít trường hợp, nghĩa vụ bảo mật thông tin cũng được đặt ra cho các bên nhưng chủ yếu vẫn là đối với thông tin có được trong quá trình thực hiện hợp đồng và trên cơ sở sự thỏa thuận của các bên, mà không phải là nghĩa vụ đương nhiên trong giai đoạn tiền hợp đồng.

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

  • Bài viết trong lĩnh vực pháp luật dân sự được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  • Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  • Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.net.vn.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here