Pháp luật áp dụng đối với hợp đồng xây dựng có yếu tố nước ngoài

0
366
khóa học phân tích báo cáo tài chính từ a-z
khóa học phân tích báo cáo tài chính từ a-z
5/5 - (5 bình chọn)

Khả năng áp dụng pháp luật nước ngoài và lựa chọn áp dụng pháp luật nước ngoài đối với hợp đồng xây dựng chỉ xảy ra khi đó là hợp đồng có yếu tố nước ngoài. Vì vậy, trước khi xem xét quyền lựa chọn áp dụng đối với hợp đồng xây dựng có yếu tố nước ngoài, cần xác định yếu tố nước ngoài của hợp đồng xây dựng.

Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198

Quyền lựa chọn luật áp dụng đối với hợp đồng xây dựng có yếu tố nước ngoài

Hợp đồng xây dựng là một loại hợp đồng dân sự khá phức tạp có đối tượng rất rộng và chủ thể có thể là các pháp nhân thương mại và pháp nhân phi thương mại (nhà nước, cơ quan nhà nước…). Hợp đồng xây dựng có bản chất là một hợp đồng dịch vụ nhằm “thực hiện một phần hay toàn bộ công việc trong hoạt động đầu tư xây dựng”, nhưng đối tượng chịu sự tác động của dịch vụ lại thường là bất động sản. Hợp đồng dịch vụ là lĩnh vực trong đó các bên có thể tự do định đoạt nội dung của hợp đồng, cũng như cơ quan giải quyết tranh chấp và pháp luật áp dụng, nếu hợp đồng đó có yếu tố nước ngoài. Nhưng hợp đồng xây dựng lại liên quan đến bất động sản nên rất có thể quyền tự do lựa chọn pháp luật bị giới hạn, thậm chí bị triệt tiêu.
Tùy theo tiêu chí được sử dụng mà có thể phân chia hợp đồng thành các loại khác nhau. Nếu dựa trên đối tượng, tính chất, nội dung của hợp đồng, đó có thể là hợp đồng tư vấn xây dựng, hợp đồng thi công xây dựng công trình, hợp đồng cung cấp thiết bị công nghệ, hợp đồng thiết kế và thi công xây dựng công trình, hợp đồng thiết kế và cung cấp thiết bị công nghệ, hợp đồng cung cấp thiết bị công nghệ và thi công xây dựng công trình, hợp đồng thiết kế – cung cấp thiết bị công nghệ và thi công xây dựng công trình, hợp đồng chìa khóa trao tay, hợp đồng cung cấp nhân lực, máy và thiết bị thi công… Nếu dựa trên hình thức giá hợp đồng, có thể chia thành hợp đồng trọn gói, hợp đồng theo đơn giá cố định, hợp đồng theo đơn giá điều chỉnh, hợp đồng theo thời gian, hợp đồng theo giá kết hợp. Nếu dựa trên mối quan hệ của các bên tham gia trong hợp đồng, có thể chia thành hợp đồng thầu chính, hợp đồng thầu phụ, hợp đồng giao khoán nội bộ và hợp đồng xây dựng có yếu tố nước ngoài.
Theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 3 Nghị định số 37/2015/NĐ-CP ngày 22/04/2015 của Chính phủ quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng (Nghị định 37), hợp đồng xây dựng có yếu tố nước ngoài là hợp đồng“được ký kết giữa một bên là nhà thầu nước ngoài với nhà thầu trong nước hoặc chủ đầu tư trong nước”. Như vậy, căn cứ nước ngoài của hợp đồng xây dựng được dựa trên quốc tịch của chủ thể. Hợp đồng xây dựng có sự tham gia của nhà thầu nước ngoài thì được coi là hợp đồng xây dựng có yếu tố nước ngoài.
Cách quy định dựa trên tiêu chí quốc tịch của nhà thầu nước ngoài là hẹp so với quy định tại khoản 2 Điều 663 Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS). Cụ thể, theo quy định này, hợp đồng có thể được coi là hợp đồng có yếu tố nước ngoài nếu thỏa mãn một trong các điều kiện sau: a) Có ít nhất một bên trong hợp đồng là cá nhân, pháp nhân nước ngoài; b) Các bên trong hợp đồng đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt hợp đồng xảy ra tại nước ngoài; c) Các bên tham gia hợp đồng là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng đối tượng của hợp đồng ở nước ngoài.

Khả năng lựa chọn pháp luật áp dụng đối với hợp đồng xây dựng có yếu tố nước ngoài

Quy định của BLDS về quyền lựa chọn pháp luật được chia thành hai nhóm sau:
– Nhóm thứ nhất đặt ra nguyên tắc chung, theo đó “pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được xác định theo lựa chọn của các bên” (khoản 2 Điều 664).
– Nhóm thứ hai bao gồm các quy định cho từng lĩnh vực chuyên biệt. Cụ thể, theo quy định của khoản 1 Điều 683, “các bên trong quan hệ hợp đồng được thỏa thuận lựa chọn pháp luật áp dụng đối với hợp đồng…”. Như vậy, cứ hợp đồng có yếu tố nước ngoài là các bên được quyền tự do lựa chọn pháp luật mà không cần phân biệt đó là hợp đồng dân sự hay hợp đồng thương mại, hợp đồng mua bán hàng hóa hay hợp đồng cung cấp dịch vụ. Ngoài ra, theo quy định của đoạn 2 khoản 1 Điều 769 BLDS năm 2005, hợp đồng được giao kết và thực hiện hoàn toàn tại Việt Nam thì các bên không được phép lựa chọn áp dụng pháp luật nước ngoài, vì hợp đồng đó “phải tuân theo pháp luật Cộng hoà XHCN Việt Nam”. BLDS hiện hành đã sửa đổi quy định này. Vì vậy, chỉ cần hợp đồng có yếu tố nước ngoài là các bên có thể lựa chọn pháp luật áp dụng, mà không cần quan tâm đến việc hợp đồng đó có giao kết và thực hiện hoàn toàn tại Việt Nam hay không.
Theo quy định của BLDS, các bên trong hợp đồng xây dựng có yếu tố nước ngoài có quyền lựa chọn pháp luật áp dụng đối với hợp đồng của mình. Tuy nhiên, quyền tự do lựa chọn pháp luật là một quyền có giới hạn. Cụ thể, trong trường hợp hợp đồng có đối tượng là bất động sản, theo khoản 4 Điều 683 BLDS, “pháp luật áp dụng đối với việc chuyển giao quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là bất động sản, thuê bất động sản hoặc việc sử dụng bất động sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ là pháp luật của nước nơi có bất động sản”.
Như vậy, ngay cả khi hợp đồng xây dựng có liên quan đến bất động sản ở Việt Nam (xây dựng một công trình chẳng hạn), nhưng không thuộc trường hợp bị giới hạn lựa chọn pháp luật áp dụng (tức liên quan đến “chuyển giao quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là bất động sản, thuê bất động sản hoặc việc sử dụng bất động sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ”) thì các bên vẫn được quyền lựa chọn pháp luật áp dụng.
Tuy nhiên, Điều 11 Nghị định 37 quy định, hợp đồng xây dựng “phải áp dụng hệ thống pháp luật của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam và tuân thủ các quy định của Nghị định này”. Nói cách khác, các bên tham gia hợp đồng xây dựng không được quyền lựa chọn pháp luật áp dụng. Điều này mâu thuẫn với BLDS.

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

  1. Bài viết nêu trên được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.net.vn.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here