Khả năng được bảo hộ sáng chế

0
100
Công bố đơn
Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn (24/7): 1900 6198

Bảo hộ sáng chế là một thủ tục có ý nghĩa rất quan trọng giúp chủ sở hữu xác lập độc quyền của mình đối với sáng chế đó. Ngăn chặn hành vi xâm phạm sáng chế từ các chủ thể khác. Vậy sáng chế, bảo hộ sáng chế là gì? Tại sao cần phải đăng ký bảo hộ sáng chế và để có khả năng bảo hộ sáng chế cần đáp ứng những điều kiện gì? Sau đây, Luật công ty sẽ giúp quý khách hàng giải đáp thắc mắc trên?

Để có đáp án nhanh nhất trong lĩnh vực pháp luật doanh nghiệp, gọi tổng đài tư vấn pháp luật (24/7): 1900 6198

Sáng chế là gì?

Căn cứ theo quy định tại Khoản 12 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 sáng chế được hiểu là: “Giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên”. 

Tại sao cần phải bảo hộ sáng chế?

Để tạo ra một sáng chế đòi hỏi các chủ thể phải bỏ ra một khối lượng thời gian, công sức và tiền bạc đáng kể. Tuy nhiên, việc các chủ thể khác bắt chước sáng chế lại quá dễ dàng. Do đó chủ sở hữu của sáng chế cần đăng kí bảo hộ sáng chế.

Thông qua việc đăng ký bảo hộ sáng chế sẽ giúp chủ sở hữu xác lập độc quyền của mình đối với sáng chế đó. Chủ sáng chế có thể được bù đắp các chi phí đầu tư. Được hưởng lợi nhuận từ việc khai thác thành quả sáng tạo của mình. Đồng thời bảo hộ sáng chế sẽ giúp chủ sở hữu sáng chế ngăn chặn hành vi xâm phạm sáng chế. Có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý các hành vi xâm phạm sáng chế đã được bảo hộ của mình.

Xem thêm: Đăng ký sáng chế, những điểm cần lưu ý

Đánh giá khả năng bảo hộ sáng chế

Khả năng bảo hộ sáng chế sẽ được dựa trên những tiêu chí sau:

Tính mới

Điều 60 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 có quy định:

Sáng chế được coi là có tính mới nếu chưa bị bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc bất kỳ hình thức nào khác ở trong nước hoặc ở nước ngoài trước ngày nộp đơn đăng ký sáng chế hoặc trước ngày ưu tiên trong trường hợp đơn đăng ký sáng chế được hưởng quyền ưu tiên. Trong đó:

Sáng chế được coi là chưa bị bộc lộ công khai nếu chỉ có một số người có hạn được biết và có nghĩa vụ giữ bí mật về sáng chế đó…

Quy định này cũng áp dụng đối với sáng chế được bộc lộ trong đơn đăng ký sở hữu công nghiệp hoặc văn bằng bảo hộ sở hữu công nghiệp do cơ quan quản lý nhà nước về sở hữu công nghiệp công bố trong trường hợp việc công bố không phù hợp với quy định của pháp luật hoặc đơn do người không có quyền đăng ký nộp.

Trình độ sáng tạo

Điều 61 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 quy định:

Sáng chế được coi là có trình độ sáng tạo nếu căn cứ vào các giải pháp kỹ thuật đã được bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc dưới bất kỳ hình thức nào khác ở trong nước hoặc ở nước ngoài trước ngày nộp đơn hoặc trước ngày ưu tiên của đơn đăng ký sáng chế trong trường hợp đơn đăng ký sáng chế được hưởng quyền ưu tiên, sáng chế đó là một bước tiến sáng tạo, không thể được tạo ra một cách dễ dàng đối với người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực kỹ thuật tương ứng.

Tuy nhiên giải pháp kỹ thuật là sáng chế được bộc lộ theo quy định tại Khoản 3 và Khoản 4 Điều 60 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 sẽ không được lấy làm cơ sở để đánh giá trình độ sáng tạo của sáng chế đó.

Khả năng áp dụng công nghệ

Theo Điều 62 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 quy định:

“Sáng chế được coi là có khả năng áp dụng công nghiệp nếu có thể thực hiện được việc chế tạo, sản xuất hàng loạt sản phẩm hoặc áp dụng lặp đi lặp lại quy trình là nội dung của sáng chế và thu được kết quả ổn định”.

Đối tượng không có khả năng được bảo hộ với danh nghĩa sáng chế

Theo Điều 59 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, những đối tượng sau đây không được bảo hộ dưới danh nghĩa sáng chế:

(i) Phát minh, lý thuyết khoa học, phương pháp toán học.

(ii) Sơ đồ, kế hoạch, quy tắc và phương pháp để thực hiện các hoạt động trí óc, huấn luyện vật nuôi, thực hiện trò chơi, kinh doanh; chương trình máy tính.

(iii) Cách thức thể hiện thông tin.

(iv) Giải pháp chỉ mang đặc tính thẩm mỹ.

(v) Giống thực vật, giống động vật.

(vi) Quy trình sản xuất thực vật, động vật chủ yếu mang bản chất sinh học mà không phải là quy trình vi sinh.

(vii) Phương pháp phòng ngừa, chẩn đoán và chữa bệnh cho người và động vật.

Xem thêm: Vấn đề bảo hộ sáng chế đối với doanh nghiệp

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

  1. Bài viết nêu trên được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật. Hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật:1900 6198, E-mail: info@everest.org.vn.

               

 

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here