Điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics với nhà đầu tư nước ngoài

0
6
Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
Bài viết được thực hiện bởi chuyên viên Nguyễn Thị Ngân - Công ty Luật TNHH Everest - Tổng đài tư vấn (24/7): 1900 6198

Dịch vụ Logistics là một hoạt động thương mại quan trọng đang ngày càng phát triển, được nhiều nhà đầu tư cả trong và ngoài nước quan tâm và tổ chức thực hiện. Vậy điều kiện để kinh doanh dịch vụ logistics là gì? Nếu là nhà đầu tư nước ngoài thì phải áp dụng thêm điều kiện khác không?

điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics
Để có đáp án nhanh nhất trong lĩnh vực pháp luật doanh nghiệp, gọi tổng đài tư vấn pháp luật (24/7): 1900 6198

Các điều kiện chung khi kinh doanh dịch vụ logistics

Hiện nay pháp luật Việt Nam quy định về các điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics tại Nghị định số 163/2017/NĐ-CP Quy định về kinh doanh dịch vụ logistics. Theo đó, những nhà đầu tư dù trong nước hay ngoài nước đều phải đáp ứng hai điều kiện sau:

  •  Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics lựa chọn các dịch vụ cụ thể tại Điều 3 trong Nghị định số 163/2017/NĐ-CP phải đáp ứng các điều kiện về đu tư, kinh doanh theo quy định của pháp luật đối với loại dịch vụ đó.
  • Thương nhân có thể tiến hành một phần hoặc toàn bộ hoạt động kinh doanh logistics bằng phương tiện điện tử có kết nối mạng Internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng mở khác, và vì thế bên cạnh những quy định về loại dịch vụ logistics cụ thể mà thương nhân phải đáp ứng, còn phải tuân thủ các quy định về thương mại điện tử.

Xem thêm bài viết: Giới hạn trách nhiệm trong dịch vụ logistics

Các điều kiện nhà đầu tư nước ngoài phải đáp ứng khi kinh doanh dịch vụ logistics

Không chỉ phải thực hiện đúng và đủ những quy định chung về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics nói trên, nhà đầu tư nước ngoài khi kinh doanh dịch vụ logistics tại Việt Nam phải đáp ứng thêm những điều kiện sau:

Đối với nhà đầu tư nước ngoài thuộc nước hay vùng lãnh thổ là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới được cung cấp dịch vụ logistics tại Việt Nam theo các điều kiện cụ thể sau đây:

  • Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải biển, không bao gồm vận tải nội địa, thì thương nhân được thành lập các công ty vận hành đội tàu treo cờ Việt Nam hoặc tham gia góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, (lưu ý tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài không được quá 49%). Tổng số thuyền viên là người nước ngoài làm việc trên các tàu treo cờ Việt Nam (hoặc được đăng ký ở Việt Nam) thuộc sở hữu của các công ty này tại Việt Nam không quá 1/3 định biên của tàu. Thuyền trưởng hoặc thuyền phó thứ nhất trên những con tàu đó phải là công dân Việt Nam. Còn công ty vận tải biển nước ngoài được phép thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp.
  • Trong trường hợp nhà đầu tư nước ngoài lựa chọn kinh doanh dịch vụ xếp dỡ container thuộc các dịch vụ hỗ trợ vận tải đường biển (có thể dành riêng một số khu vực để cung cấp các dịch vụ hay áp dụng thủ tục cấp phép tại các khu vực này), được phép thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp (lưu ý rằng tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài không quá 50%). Nhà đầu tư nước ngoài được cho phép thành lập hiện diện thương mại tại quốc gia Việt Nam dưới hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh.
  • Ngoài ra, trong trường hợp kinh doanh dịch vụ xếp dỡ container thuộc các dịch vụ hỗ trợ mọi phương thức vận tải (không bao gồm dịch vụ cung cấp tại các sân bay), được thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, mà tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài không quá 50%.
  • Thương nhân nước ngoài muốn kinh doanh dịch vụ thông quan thuộc dịch vụ hỗ trợ vận tải biển, được phép thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, trong đó có vốn góp của nhà đầu tư trong nước. Nhà đầu tư nước ngoài cũng được phép thành lập hiện diện thương mại tại Việt Nam dưới hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh.
  • Đối với nhà đầu tư nước ngoài lựa chọn kinh doanh các dịch vụ khác, bao gồm: Kiểm tra vận đơn, dịch vụ môi giới vận tải hàng hóa, kiểm định hàng hóa, dịch vụ lấy mẫu và xác định trọng lượng; dịch vụ nhận và chấp nhận hàng; dịch vụ chuẩn bị chứng từ vận tải, được phép thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, trong đó có vốn góp của nhà đầu tư trong nước.
  • Điều kiện cho thương nhân nước ngoài kinh doanh dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường thủy nội địa, dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường sắt, được Nhà nước cho phép thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, tuy nhiên tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài không được quá 49%.
  • Nếu kinh doanh dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường bộ, sẽ thực hiện thông qua hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh hay thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp (lưu ý tỷ lệ vốn góp của thương nhân nước ngoài không quá 51%). Đặc biệt, tất cả người lái xe của doanh nghiệp phải là công dân Việt Nam.
  • Trong trường hợp nhà đầu tư nước ngoài muốn kinh doanh dịch vụ vận tải hàng không thực hiện phải đáp ứng quy định riêng của pháp luật về hàng không.

Khi lựa chọn kinh doanh dịch vụ phân tích và kiểm định kỹ thuật:

  • Với các dịch vụ được cung cấp để thực hiện thẩm quyền của Chính phủ sẽ được thực hiện dưới hình thức doanh nghiệp, trong đó có vốn góp của nhà đầu tư trong nước sau ba năm hoặc dưới hình thức doanh nghiệp mà không hạn chế vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài sau năm năm, kể từ khi nhà cung cấp dịch vụ tư nhân được phép kinh doanh các dịch vụ đó.
  • Không được phép kinh doanh dịch vụ kiểm định và cấp giấy chứng nhận cho các phương tiện vận tải.
  • Tuy nhiên dịch vụ phân tích và kiểm định kỹ thuật bị hạn chế hoạt động tại các khu vực địa lý được cơ quan có thẩm quyền xác định vì lý do an ninh quốc phòng của quốc gia.

Tìm hiểu thêm về lĩnh vực luật thương mại 

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

  1. Bài viết trong lĩnh vực pháp luật được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật:1900 6198, E-mail: info@everest.org.vn.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here