Giới hạn của quyền sở hữu công nghiệp được pháp luật quy định như thế nào?

0
10
cong ty hop danh
Để có đáp án nhanh nhất trong lĩnh vực pháp luật doanh nghiệp, gọi Tổng đài tư vấn pháp luật (24/7): 1900 6198

Quyền sở hữu công nghiệp là một trong những đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ và thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam. Tuy nhiên, không phải vì thế mà ai cũng được tự do sử dụng, bởi vì quyền này cũng sẽ có những giới hạn quyền sở hữu công nghiệp để đảm bảo được những lợi ích cân bằng giữa cá nhân, tổ chức với Nhà nước.

Giới hạn quyền sở hữu công nghiệp
Để có đáp án nhanh nhất trong lĩnh vực pháp luật thương mại, gọi Tổng đài tư vấn pháp luật (24/7): 1900 6198

Quyền sở hữu công nghiệp theo quy định của pháp luật

Vậy Quyền sở hữu công nghiệp là gì?

Quyền sở hữu công nghiệp là quyền của cá nhân, tổ chức đối với sáng chế, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, tên thương mại, bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, do chính mình sáng tạo ra hoặc là sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh.

Nói cách khác thì quyền sở hữu công nghiệp là pháp luật về sở hữu công nghiệp, là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ xã hội phát sinh sau khi con người sáng tạo ra một sản phẩm trí tuệ và được pháp luật coi là các đối tượng sở hữu công nghiệp. Với nghĩa này, quyền sở hữu công nghiệp là quyền sở hữu đối với tài sản vô hình, mặt khác, quyền sở hữu công nghiệp còn bao gồm các quy định trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Giới hạn chung của quyền sở hữu trí tuệ

Giới hạn quyền sở hữu trí tuệ có thể hiểu là một chế định mà pháp luật quy định về quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ. Tuy nhiên cũng có những hạn chế đối với các chủ thể trong một số trường hợp nhất định theo quy định.

(i) Về mặt nguyên tắc, chủ thể quyền sở hữu trí tuệ chỉ được thực hiện quyền của mình trong phạm vi và thời hạn bảo hộ theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ bao gồm chủ thể quyền tác giả, chủ thể quyền sở hữu công nghiệp và chủ thể quyền giống cây trồng. Việc tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì trật tự xã hội vì thế các tổ chức, cá nhân phải tuân thủ và không được xâm phạm quyền của chủ thể quyền trong giới hạn này.

(ii) Việc thực hiện quyền sở hữu trí tuệ không được xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, không được vi phạm các quy định khác của pháp luật có liên quan, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác.

(iii) Trong trường hợp nhằm bảo đảm mục tiêu quốc phòng, an ninh, dân sinh và các lợi ích khác của Nhà nước, xã hội quy định tại Luật sở hữu trí tuệ, Nhà nước có quyền cấm hoặc hạn chế chủ thể quyền sở hữu trí tuệ thực hiện quyền của mình hoặc buộc chủ thể quyền sở hữu trí tuệ phải cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng một hoặc một số quyền của mình với những điều kiện phù hợp; việc giới hạn quyền đối với sáng chế thuộc bí mật nhà nước được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

Đối với sáng chế thuộc bí mật nhà nước cần phải được thực hiện theo đúng quy định của Chính phủ và cần phải nhằm mục đích để bảo đảm mục tiêu quốc phòng, an ninh, dân sinh và các lợi ích khác của Nhà nước, và xã hội.

Giới hạn của quyền sở hữu công nghiệp

Để cân bằng giữa lợi ích của chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp và lợi ích của Nhà nước, xã hội, Luật Sở hữu trí tuệ quy định về trường hợp giới hạn quyền sở hữu công nghiệp đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp như sau:

(i) Quyền của người sử dụng trước đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp đối với trường hợp trước ngày đơn đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp được công bố mà có người đã sử dụng hoặc chuẩn bị các điều kiện cần thiết để sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp đồng nhất với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp trong đơn đăng ký nhưng được tạo ra một cách độc lập hoặc người có quyền sử dụng trước sáng chế, kiểu dáng công nghiệp không được phép chuyển giao quyền đó cho người khác, trừ một vài trường hợp theo quy định.

Ví dụ: Kỹ sư C đã nghiên cứu và sáng chế ra màn hình điện thoại thông minh có độ phân giải và khả năng hiển thị độ sáng, ứng dụng tốt hơn dòng sản phẩm trước; thấy vậy công ty A muốn mua lại sáng chế của kỹ sư C để áp dụng cho các dòng điện thoại bên mình. C hoàn toàn có thể bán lại sáng chế này cho công ty A hoặc bất kì công ty nào và cơ quan nhà nước sẽ sữ không có thẩm quyền buộc C phải chuyển giao quyền sử dụng cho công ty A.

(ii) Nghĩa vụ của chủ sở hữu bảo gồm: Trả thù lao cho tác giả sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí; Chủ sở hữu sáng chế, nhãn hiệu có nghĩa vụ sử dụng sáng chế, nhãn hiệu đã đăng ký.

(iii) Chuyển giao quyền sử dụng sáng chế theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong một số trường hợp, vì mục đích phục vụ an ninh, quốc phòng, lợi ích công cộng, phòng bệnh, chữa bệnh…. Trong trường hợp này, nhà nước có thể buộc chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp mà không cần phải có sự đồng ý của chủ sở hữu.

Có thể bạn quan tâm: Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

  1. Bài viết trong lĩnh vực pháp luật được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật:1900 6198, E-mail:info@everest.org.vn.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here