Các lý thuyết về thương mại quốc tế cần nắm vững

0
29
Tất tần tật về quyền và giới hạn quyền đối với giống cây trồng - Cần biết tránh mất quyền lợi!
Để có đáp án nhanh nhất trong lĩnh vực pháp luật doanh nghiệp, gọi Tổng đài tư vấn pháp luật (24/7): 1900 6198

Trong lịch sử kinh tế thế giới; lúc đầu các nước chỉ buôn bán trong lãnh thổ của nước đó theo kiểu tự túc tự cấp. Sau này nền kinh tế sản xuất phát triển, có của cải dư dả, nhu cầu con người tăng lên nên các nước có nhu cầu trao đổi hàng hóa với nhau. Khi các nước qua lại trao đổi hàng hóa, buôn bán với nhau sẽ xuất hiện khái niệm Thương mại quốc tế. Các lý thuyết về thương mại quốc tế cũng được hình thành và hoàn thiện bởi các nhà kinh tế học.

lý thuyết về thương mại quốc tế
Để có đáp án nhanh nhất trong lĩnh vực pháp luật thương mại, gọi tổng đài tư vấn pháp luật (24/7): 1900 6198

Quan điểm chủ nghĩa trọng thương

Trước thế kỷ XV, các tác nhân kinh tế cũng vận động theo nguyên tắc kinh tế tuy nhiên các tác nhân này vận động nhưng không phát biểu nó thành lý thuyết cụ thể. Vì không hiểu rõ lý thuyết vận động nên họ không biết thế nào là tốt và thế nào là không tốt và như vậy cuộc sống dân cư hàng nghìn năm trước đó phát triển theo hình thức tự phát

Đến thế kỷ XV một số nhà kinh tế học hình thành lý thuyết kinh tế Chủ nghĩa trọng thương được coi là thuyết kinh tế đầu tiên. Chủ nghĩa trọng thương có quan điểm như sau:

(i) Mối quan hệ giưã các tác nhân kinh tế là Được – Mất: Nếu một người có thêm một lượng vàng thì người khác mất đi một lượng vàng. Của cải có được chỉ có thể thông qua việc phân chia không công bằng, nghĩa là bóc lột người khác. Giai cấp thống trị bóc lột sức lao động và vơ vét của cải từ giai cấp bị trị.

(ii) Mối quan hệ giữa hai nước là bảo hộ mậu dịch: Thông qua việc kích thích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu thì vàng sẽ được chảy vào nước mình.

(iii) Quan điểm về sự giàu có của một quốc gia: Quốc gia càng có nhiều vàng bạc, đất đai, dân cư thì càng giàu có. Quan điểm này kích thích việc một nước gây chiến với nước khác để có thêm vàng bạc, chiếm giữ đất đai và đồng hóa dân chúng.

Quan điểm của chủ nghĩa trọng thương mang tới một kết cục là đất nước không chú trọng kích thích sản xuất mà chỉ kích thích chiếm đoạt. Tuy nhiên khi dân số ngày một tăng mà sản xuất không tăng trưởng tương ứng thì dẫn tới mất cân bằng, đời sống dân chúng sẽ ngày càng kém đi. Khi đó việc có nhiều vàng cũng không giải quyết được vấn đề do không có hàng hóa.

Xem thêm các bài viết khác tại Luật thương mại

Lý thuyết lợi thế tuyệt đối

Trong cuốn sách “Sự giàu có của các quốc gia”, là cuốn sách nổi tiếng của bản thân, Adam Smith đã đưa ra quan điểm phản bác lại quan điểm của Chủ nghĩa trọng thương, ông cho rằng thương mại là một trò chơi có tổng lợi ích bằng không. Smith lập luận rằng khác nhau giữa các nước là về khả năng sản xuất các hàng hóa một cách có hiệu quả và theo ông, một nước có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất một sản phẩm khi mà nước đó sản xuất sản phẩm có hiệu quả hpn so với nước khác. Vào thời kỳ của ông, nước Anh là những nhà sản xuất hàng dệt hiệu quả nhất trên thế giới với sự ưu việt hơn hẳn về quy trình và công nghệ sản xuất. Bên cạnh đó, nhờ có sự kết hợp của khí hậu thuận lơi, đất đai màu mỡ, và con người có kinh nghiệm qua nhiều thế hệ, nước Pháp lại là nước có ưu thế về sản xuất rượu vang hiệu quả nhất. Như vậy có thể nói nước pháp có lợi thế tuyệt đối về sản xuất rượu vang còn nước Anh có lợi thế tuyệt đối về sản xuất vải dệt.

Adam Smith cho rằng mỗi loại hàng hóa đều có khác biệt về chi phí sản xuất. Vào thời này ông coi nhân công là chi phí sản xuất duy nhất trong mô hình lý thuyết kinh tế của mình.

Giờ công/ Sản phẩm Nhật Bản Việt Nam
Thép  2 6
Vải 5 3

Trong ví dụ trên, chi phí sản xuất thép ở Việt Nam đắt hơn ở Nhật nhưng ở Nhật chi phí sản xuất vải lại đắt hơn ở Việt Nam. Như vậy Việt Nam nên tập trung sản xuất vải, còn Nhật Bản tập trung sản xuất thép.

Trong cuốn sách của mình, quan điểm của Adam Smith về lý xúc tiến thương mại quốc tế học như sau:

(i) Mối quan hệ trong các tác nhân kinh tế là Cùng Được: Bằng cách tối ưu lợi ích cá nhân các tác nhân kinh tế đã làm tăng phúc lợi xã hội dù là gián tiếp.

(ii) Mối quan hệ giữa hai nước là cùng phát triển: Mỗi nước có lợi thế riêng vì vậy sản xuất ra hàng hóa với chi phí khác nhau. Bằng cách trao đổi hàng hóa giữa các nước, mỗi nước sẽ thu về lợi ích lớn nhất với chi phí thấp nhất.

(iii) Quan điểm về sự giàu có của một quốc gia: là cuộc sống của người dân có hạnh phúc không, đời sống có đầy đủ không chứ không phải là số vàng bạc có bao nhiêu.

Adam Smith cổ vũ xóa bỏ các rào cản thương mại như thuế, hạnh ngạch,…. Đây là bước chuyển lớn từ nền kinh tế bảo hộ mậu dịch chuyển sang tự do thương mại.

Lý thuyết lợi thế so sánh

David Ricardo mở rộng thêm lý thuyết của Adam Smith khi đưa ra giả thuyết một nước có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất tất cả mặt hàng. Và sau đó ông đưa ra lý thuyết về lợi thế so sánh, nghĩa là các quốc gia cần xác định được đâu là mặt hàng có lợi thế so sánh để tập trung vào sản xuất.

Giờ công/ Sản phẩm Nhật Bản Việt Nam
Thép  2 12
Vải 5 6

Trong ví dụ trên mặc dù là sản xuất vải ở Nhật rẻ hơn ở Việt Nam nhưng vì:

(i) Ở Nhật Bản, 1 giờ làm được 2 đơn vị thép và 5 đơn vị vải nên 1 đơn vị thép = 2/5 đơn vị vải

(ii) Ở Việt Nam, 1 giờ làm được 12 đơn vị thép và 6 đơn vị vải nên 1 đơn vị thép = 2 đơn vị vải

Như vậy 1 đơn vị thép nếu quy ra vải ở Việt Nam sẽ lớn hơn là ở Nhật bản. Nhật bản nên sản xuất thép và mang sang Việt Nam đổi lấy 2 đơn vị vải còn hơn là sản xuất vải. Ngược lại Việt Nam nên mang 2 đơn vị vải sang Nhật để đổi lấy 1 đơn vị thép còn hơn là tự sản xuất thép.

Trường hợp thương mại quốc tế chỉ xảy ra khi cả hai nước đều cảm thấy có lợi. Nếu như 1 đơn vị thép bằng hoặc lớn hơn 2 đơn vị vải thì Nhật bản sẽ được lợi nhưng Việt Nam lại không được lợi; còn nếu như 1 đơn vị thép < 2/5 đơn vị vải thì Việt Nam lợi nhưng Nhật bản lại không.

Vì vậy hai nước sẽ có buôn bán chừng nào 2/5 đơn vị vải < 1 đơn vị thép < 2 đơn vị vải.

Mở rộng ra giả sử như có 3 nước tham gia vào quá trình sản xuất thì một nước nên chọn một nước có chi phí sản xuất mặt hàng đó cao nhất để xuất khẩu.

Cả hai học thuyết của Adam Smith và David Ricardo đều cần các giả thuyết ban đầu như:

(i) Lao động không được dịch chuyển tự do giữa các nước (vì nếu dịch chuyển thì sẽ không còn lợi thế nữa),

(ii) Chi phí vận chuyển giữa hai quốc gia là bằng 0,

(iii) Trong mô hình chỉ có hai quốc gia và hai mặt hàng

(iv) Cạnh tranh hoàn hảo tồn tại trên các thị trường (có nghĩa là có vô số người bán và vô số người mua)

(v) Hai nước có công nghệ sản xuất như nhau và không đổi (vì Adam chỉ coi nhân công là chi phí sản xuất đầu vào duy nhất, bỏ qua các biến khác như công nghệ)

Mô hình Heckscher – Ohlin

Mô hình này còn gọi là mô hình H-o do hai nhà kinh tế học là Eli Heckscher và Bertil Ohlin của Thụy Điển đồng hình thành vì vậy tên mô hình là nối hai tên của hai nhà kinh tế học này.

Mô hình này đưa ra hai yếu tố ảnh hưởng tới thương mại quốc tế như sau:

(i) Mức đố dồi dào và giá rẻ của các yếu tố sản xuất.

(ii) Mỗi một loại hàng hóa lại cần tỷ lệ các yếu tố đầu vào khác nhau.

Một quốc gia nên xuất khẩu các loại hàng hóa và mình dồi dào yếu tố sản xuất đầu vào cho loại hàng hóa đó và nhập về nững hàng hóa có tính ngược lại.

Trong ví dụ cụ thể trên thì Việt Nam nên sản xuất vải, giày dép vì dồi dào lao động, còn Nhật nên sản xuất thép vì vốn nhiều lao động ít và nhập vải về.

Tuy nhiên, thực tế hiện nay các nước đều theo chủ nghĩa Tân trọng thương nghĩa là khuyến khích xuất khẩu và bảo hộ mậu dịch trong nước thông qua các hàng rào thuế quan, kỹ thuật. Vì vậy ta sẽ thấy là thuế xuất khẩu rất thấp hoặc có thể bằng 0 nhưng thuế nhập khẩu lại rất cao có thể lên tới 100% hoặc hơn.

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

  • Bài viết trong được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  • Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  • Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.org.vn.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here